NHUYỄN THỂ CÓ VỎ

MOLLUSC

 

GIỚI THIỆU CHUNG

            Theo các tài liệu nghiên cứu, đă xác định được 800 loài nhuyễn thể có vỏ ở Việt Nam. Trong đó lớp chân bụng (Gastropoda) có 15 loài, lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 26 loài có giá trị kinh tế cao.

            Nhuyễn thể có vỏ là nhóm động vật thuỷ sản có độ đa dạng sinh học phong phú. So với các loại thịt động vật, thực phẩm từ động vật thân mềm vó vỏ có hàm lượng đạm cao, trong đó có nhiều axít amin rât cần thiết cho con người, lượng mỡ thấp, nhiều thành phần muối vô cơ, giá trị dinh dưỡng rất cao. Nhiều loại được xem là thực phẩm bổ dưỡng quư. Ngoài ra, vỏ của chúng cũng có tác dụng làm đồ trang sức đắt tiền, làm dược phẩm.

Vùng phân bố : Nhuyễn thể có vỏ phân bố ở khắp vùng biển Việt Nam, từ độ sâu 0m đến vùng biển sâu xa bờ. Có thể chia thành 2 nhóm :       Các loài chủ yếu  phân bố ở vùng băi triều : một số sống trên băi triều cửa sông, hoặc băi cát rạn đá ven biển, thuận lợi cho việc khai thác thủ công và nuôi. Nhóm này bao gồm các loài ngao (Meretrix), ṣ (Arca), vẹm (Mytilus), hàu (Ostrea), tu hài (Lutraria), phi (Sanguinolaria), ngán (Cyclina), vọp (Cyrena), vạng (Mactra), don (Glaucomya), dắt (Aliodis), ngó (Dosinia ), ốc mút (Cerithidium), ốc đĩa (Nerita). Chúng sống trong đáy bùn cát hoặc cát sỏi, bám trên đá ở vùng trung và hạ triều, thường tập trung thành từng băi từ vài chục, vài trăm, có khi lên tới hàng ngh́n hecta, thuần loại hoặc xen kẽ một số loài. Đây là các đối tượng loài có giá trị thực phẩm, được khai thác thường ngày, một số loài có giá trị xuất khẩu. Hiện nay những loài này cũng được nuôi bán tự nhiên ở một số vùng ven biển.

            Các loài trai cỡ lớn có giá trị thực phẩm và mỹ phẩm cao, sống ở tầng trên vùng dưới triều, ở độ sâu 10-15m hoặc hơn, có thể kể các đối tượng như bào ngư ( Haliotis), trai ngọc (Pteria, Pinctada), trai tai tượng (Tridacna), điệp (Chlamys, Amussium), ốc xà cừ (Turbo, ốc tù và vân nâu (Charonia), ốc glác (Cymbium). Ngoài ra cũng c̣n nhiều loài trai ốc cỡ nhỏ khác trong đó có ốc hương (Babylonia areolata) được khai thác nhiều ở vùng dưới triều và có giá trị xuất khẩu.

Khai thác : Tổng sản lượng khai thác tự nhiên ở biển và ven biển các loài nhuyễn thể có vỏ thuộc hai lớp chân bụng và hai mảnh vỏ ước đạt 300.000 – 350.000 tấn/năm. Trong đó sản lượng cao nhất là dắt (130.000 – 150.000 tấn/năm, nghêu (50.000 – 60.000 tấn/năm), ṣ huyết (40.000 – 50.000 tấn/năm),…

Nuôi : Nhiều đối tượng nhuyễn thể có vỏ đă được nuôi như hà, nghêu, trai ngọc, ṣ huyết, ốc hương, bào ngư vành tai, ngao, vẹm xanh, tù hài, v.v…

H́nh thức nuôi : Nuôi băi triều, nuôi klồng bè, nuôi dàn. Nguồn con giống, chủ yếu vẫn dựa vào tự nhiên, nhưng gần đây đă sản xuất nhân tạo thành công giống một số loài như trai ngọc, ốc hương, điệp, bào ngư, v.v… mở ra triển vọng phát triển phát triển rất lớn.

            Một số loài nhuyễn thể có vỏ có giá trị xuất khẩu ở Việt Nam 

TT

Tên tiếng Việt

Tên tiếng Anh

Tên khoa học

  1.  

Ṣ huyết

Blood cookle

Andara granosa

  1.  

Ṣ lông

Hakf - crenate Ark

Anadara subcrenata

  1.  

Nghêu lụa

Undulating Venus

Paphia undulata

  1.  

Nghêu Bến Tre

Hard Clam, Lyrate Asiatic

Meretrix lyrata

  1.  

Ngao dầu

Asiatic Hard Clam

Meretrix meretrix

  1.  

Ngao vân

Poker Chip Venus

Meretrix lusoria

  1.  

Điệp bơi viền vàng

Japanese Moon Scallop

 Amussium japonicum

  1.  

Điệp quạt

Noble Scallop

Chlamys nobilis

  1.  

Vẹm xanh

Green Mussel

Perna viridis

  1.  

Tu hài

Snout Otter Clam

Lutraria rhynchaena

11.

Tra Trai ngọc môi vàng

Yellow Lip Pearl Shell Pinctada maxima
12. Trai ngọc trắng Japanese Pearl Oyster Pinctada fucata martensii