Số lượt truy cập:   575025


QUI TRÌNH ƯƠNG CÁ RÔ PHI ĐƠN TÍNH
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 25/09/08-09:51:42


C. QUI TRÌNH ƯƠNG CÁ RÔ PHI ĐƠN TÍNH

21 NGÀY TUỔI LÊN CÁ 3- 4 cm

A. Ương cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi lên cá hương

1. Chuẩn bị ao ương, giai ương

Có thể ương cá rô phi giống toàn đực 21 ngày tuổi trong giai (cắm trong ao đất) hoặc ao đất.

1.1. Điều kiện ao ương

. Ao ương cá không cớm rợp, bờ ao chắc chắn giữ được nước không rò rỉ, công cấp và cống thoát nước phải luôn có đăng chắn để tránh cá tạp vào ao và cao hơn mức nước tối đa qui định cho ao ương là 0,5m. Đáy ao phẳng đều hoặc hơi dốc về phía cống thoát nước, đáy có lớp bùn đáy dày 15- 20cm.

Nguồn nước cấp cho ao ương phải sạch, không bị ô nhiễm, không có độc tố, độ pH từ 6,5- 8,5.. Hàm lượng ôxy hoà tan trong nước duy trì trên 3 mg/l.

Diện tích ao ương từ 300- 2.000m2. Mức nước trong ao từ 0,8- 1,0m.

1.2. Giai ương

Giai sử dụng để ương cá là giai mau. Đáy và thành giai đều làm bằng lưới nylon có cỡ mắt lưới là 1mm. Diện tích tối thiểu là 20m2, tối đa là 150m2. Chiều rộng tối đa 4,0- 4,5m; chiều dài tuỳ ý nhưng không nên dài quá 35m.

Mức nước trong ao cắm giai tối thiểu phải đạt 1,0m.

1.3. Chuẩn bị ao

Ao ương cá rô phi 21 ngày tuổi lên cá hương được chuẩn bị theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN-64-79. Khi lấy nước nhất thiết phải có mành chắn để lọc nước không cho địch hại theo nước vào ao.

 

2. Thả cá

Cá được thả xuống ao hoặc giai vào sáng sớm hoặc chiều mát. Không thả cá lúc nắng gắt hoặc sắp mưa hay đang mưa to. Trước khi thả cá ra ao nhất thiết phải cân bằng nhiệt độ dần dần giữa nước trong túi vận chuyển cá và nước ao bằng cách ngâm túi cá trong nước ao 10- 15 phút, sau đó mới thả cá từ từ ra ao.

            Mật độ cá thả đối với ao: 100- 150 con/m2.

            Mật độ cá thả đối với giai: 1.000- 1.100 con/m2.

 

3. Chăm sóc quản lý

3.1. Chăm sóc

Có thể cho cá ăn bằng thức ăn tổng hợp hiện đang có trên thị trường hoặc tự chế biến với hàm lượng đạm tổng số 20- 30%. Có thể sử dụng một trong những công thức trong bảng 1 để chế biến thứca ưn cho cá. Nguyên liệu sử dụng để chế biến thức ăn cho cá được nghiền riêng lẻ thành bột mịn, nhưng cũng có thể nghiền hỗn hợp nguyên liệu. Đậu tương trước khi nghiền được rang chín. Khi trộn vitamin

phải trộn đều bằng cách: trộn toàn bộ lượng vitamin với một lượng nhỏ bột nguyên liệu cho đều, sau đó dần dần cho thêm bột nguyên liệu vào trộn tiếp cho đến khi hết bột nguyên liệu.

Bảng 1.  Một số công thức thức ăn

 

Công thức

Thành phần

Tỷ lệ (%)

Đạm tổng số (%)

Mỡ tổng số (%)

1

Đậu tương

Ngô

Vitamin

40

59

1

 

24

 

6

 

2

Cá khô nhạt

Cám gạo

Vitamin

35

64

1

 

23

 

8

3

Cá khô nhạt

Đậu tương

Cám gạo

Vitamin

30

10

59

1

 

24

 

8

 

            Trong một tuần đầu, thức ăn có thể được nấu chín, dùng nước ao pha loãng té đều khắp ao hoặc giai. Những ngày tiếp theo thức ăn không cần nấu chín mà cho cá ăn luôn ở dạng bột cũng bằng cách tung đều khắp mặt ao hoặc giai. Mỗi ngày cá đwocj cho ăn hai lần vào buổi sáng và chiều. Lượng thức ăn hàng ngày được qui định trong bảng 2.

 

Bảng 2. Lượng thức ăn cho cá ăn mỗi ngày

 

Thời gian ương nuôi

Lượng thức ăn (kg/ 1 vạn cá/ ngày)

Ương trong ao đất

Ương trong giai

Tuần lễ thứ nhất (7 ngày đầu)

0,2- 0,3

0,4- 0,5

Tuần lễ thứ hai (7 ngày kế tiếp)

0,4- 0,5

0,6- 0,7

Tuần lễ thứ ba (7 ngày cuối)

0,6- 0,7

0,8- 0,9

 

            Ngoài thức ăn tinh có thể bón thêm phân vô cơ để gây thức ăn tự nhiên cho cá. Lượng phân bón được tính trong bảng 3. Tuỳ thuộc vào màu nước có thể bón mỗi tuần một lần hoặc hai lần hay chỉ bón một lần vào tuần đầu của cả quá trình ương nuôi.

 

Bảng 3. Lượng phân vô cơ bón bổ sung

 

Loại phân vô cơ

Lượng bón (kg/100m2)

     Phân đạm

0,2- 0,3

     Phân lân

0,2- 0,3

     Vôi bột

0,8- 1,0

 

3.2. Quản lý

- Hàng ngày kiểm tra ao vào buổi sáng, chú ý một số hiện tượng: vào buổi sáng sớm cá thường bị nổi đầu, khi có tiếng động cá vẫn không lặn; nếu thấy nước ao quá đặc cần phải thêm nước mới ngay.

- Khi thấy nước cạn dưới mức qui định cần kiểm tra lại bờ, cống thoát nước và kịp thời xử lý ngay; sau đó cấp nước vào ao cho đủ mức qui định.

- Thường xuyên dọn cỏ, vớt bèo, tu bổ bờ ao cho chắc chắn.

- Xem xét các dây buộc góc giai và mỗi tuần vệ sinh thay giai một lần.

- Quan sát màu nước ao, khi thấy nước ao có màu xanh nõn chuối là tốt, nếu nước quá xanh, tảo nhiều thì không bón phân vô cơ nữa. Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá, đặc biệt khi cho cá ăn để biết tình trạng sức khoẻ của cá; ban đêm dùng đèn pin soi xung quanh ao, phát hiện và diệt các địch hại để không làm giảm tỷ lệ hao hụt.

- Định kỳ 1 tuần thu 30- 50 con cá theo dõi sinh trưởng để điều chỉnh lượng  thức ăn.

 

4. Thu hoạch

- Trước khi thu hoạch nhất là cá ương ở ao đất, cần luyện cá vào buổi sáng bằng cách dùng lưới kéo ép hoặc làm đục nước ao 3- 4 ngày liên tục. Ngừng cho cá ăn trước 1 ngày thu hoạch. Chỉ thu hoạch cá vào buổi sáng hoặc chiều mát.

- Đối với cá ương trong ao đất: dùng lưới kéo 2- 3 nẻ để thu đại bộ phận cá, sau đó mới làm cạn và thu nốt số cá còn lại.

- Đối với cá ương trong giai: dùng sào tre dài gom cá vào một góc là ta có thể thu hoạch được.

 

5. Kết quả

- Áp dụng quy trình này, sau 20 ngày ương cá đạt cỡ 1,0- 1,3 g/con; tỷ lệ sống đạt 70- 75% trở lên.

 

B. Ương cá rô phi đơn tính từ cá hương lên cá giống

1. Chuẩn bị ao ương

Diện tích ao ương 300- 1.000m2. Mức nước ổn định 1- 1,5m. Ao phải được tát cạn, vét bùn, san lấp các hang hốc trên bờ để hạn chế địch hại. Tẩy dọn đáy ao bằng vôi bột với lượng 7- 10 kh«ng/100m2. Sau khi tẩy vôi, phơi đáy ao từ 3- 5 ngày. Lấy nước phải lọc qua đăng hoặc lưới lọc. Nguồn nước lấy vào ao không bị ô nhiễm, pH từ 6,5- 8,5; hàm lượng ôxy hoà tan trong nước trên 3 mg/l.

 

2. Thả cá và chăm sóc

Chọn cá có kích cỡ đồng đều, khoẻ mạnh và bơi lội nhanh nhẹn. Mật độ cá thả 40- 50 con/m2. Cho cá ăn bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm tổng số 25- 30% hoặc thức ăn tự phối trộn, thành phần các nguyên liệu và tỷ lệ áp dụng như thức ăn cho cá giai đoạn từ cá bột lên cá hương.

Khẩu phần ăn cho cá là 5% trọng lượng cá trong ao. Thức ăn được chia làm 3 phần cho ăn vào 8h sáng, 13h và 16h hàng ngày. Thức ăn được rải đều xung quanh ao, có thể bổ sung thêm thức ăn xanh là rau xanh băm nhỏ hoặc bèo tấm, bèo hoa dâu.

Thường xuyên theo dõi ao cá, kiểm tra mức nước, phát hiện những chỗ rò rỉ để khắc phục. Diệt trừ địch hại và kiểm tra hoạt động của cá.

 

3. Thu hoạch cá giống

Trước khi thu hoạch cá giống 1 tuần cần tiến hành luyện cá bằng cách dồn cá vào lưới để cá quen dần với môi trường chật, nước đục. Dùng lưới dệt sợi mềm không gut, mắt lưới nhỏ hơn chiều cao thân cá để cá không bị lọt và không bị mắc vào lưới. Có thể dùng lưới cước mắt nhỏ. Cá được luyện sẽ không bị sốc khi thu hoạch, không bị yếu hoặc chết khi đánh bắt hoặc vận chuyển đi xa. Khi thu hoạch cá giống phải ngừng cho cá ăn trước 1 ngày.

 

4. Kết quả

Thời gian ương từ cá hương lên cá giống sau 2- 3 tuần cá đạt 2- 3cm/con; tỷ lệ sống 80- 90%. Ương cá sau 4- 5 tuần đạt cỡ 20 g/con.







CÁC TIN KHÁC
  An Giang: Xây dựng vùng nguyên liệu cá tra đạt chuẩn Global GAP
  Nuôi tổng hợp tôm sú, cá dìa và cua
  Hệ thống nuôi thủy sản khép kín (CSA): Giải pháp khả thi nuôi thủy sản sạch
  Đã có giống "tôm thẻ Viện III"
  Phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng ở Việt Nam
  KỸ THUẬT NUÔI THÂM CANH CÁ RÔ PHI DÒNG GIFT
  KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ PHI VẰN
  Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Tráp vây vàng (Sparus latus Houttuyn) trong ao
  Kỹ thuật nuôi cầu gai bằng phương pháp giàn bè
  Nuôi động vật thân mềm là thế mạnh của thủy sản Khánh Hòa
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang