Số lượt truy cập:   574503


KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ PHI VẰN
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 25/09/08-09:44:49


1. Những đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn

1.1. Nguồn gốc

- Nguồn gốc của cá rô phi là từ châu Phi.

- So với các loài cá khác, cá rô phi sớm gần gũi với đời sống của con người hơn. Hình ảnh cá rô phi đã có ở các bức khắc trên đá trong các kim tự tháp của Ai Cập.

- Cá rô phi cũng là loài cá được con người đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 1924 và sau đó nuôi rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới vào những năm 1940- 1950, nhất là ở những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới; thậm chí chỉ vài chục năm gần đây nuôi cá rô phi mới thực sự phát triển mạnh mẽ trở thành một ngành nuôi có qui mô công nghiệp, cho sản lượng thương phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao.

1.2 Tính ăn

Là loài ăn tạp, thức ăn gồm có: phù du sinh vật, côn trùng, giun đất, phân lợn, cỏ, bèo, mùn bã hữu cơ, các loại ngũ cốc như ngô, khoai, sắn, cám gạo…

1.3 Sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi vằn thay đổi tuỳ theo nhiệt độ, thức ăn và mật độ thả. ở giai đoạn cá con, cá rô phi vằn có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, đạt 15- 20 g/tháng. Trong điều kiện nuôi bình thường, từ tháng thứ hai trở đi tốc độ lớn của cá có chậm lại, bình quân tăng 35- 40 g/con (tháng thứ hai), 70- 80 g/con (tháng thứ ba) và 40- 50 g/con (tháng thứ tư). Nghĩa là sau 4 tháng nuôi ở điều kiện bình thường cá có thể đạt cỡ 200 g/con.

 

1.4. Sinh sản

  1.4.1. Thành thục sinh dục: Trong điều kiện nuôi trong ao, cá rôphi vằn phát dục ở tháng thứ ba, thứ tư. Chu kỳ sinh đẻ là 30- 35 ngày một lứa. ở những vùng  khí hậu ấm áp quanh năm như ở các tỉnh phía Nam, cá rô phi vằn có thể sinh đẻ 11- 12 lần/năm; còn ở các tỉnh phía Bắc cá chỉ đẻ 5- 6 lần/năm, do trong những tháng mùa đông nhiệt độ xuống dưới 20oC cá không sinh đẻ.

 1.4.2. Phân biệt cá đực, cá cái: Đến tuổi phát dục, mép vây đuôi, vây lưng, vây bụng của con đực có màu rực rỡ từ hồng tím đến xanh đen giống như "khoác bộ áo cưới"; trong khi đó ở cá cái không có sự thay đổi gì về màu sắc bên ngoài.

Có thể phân biệt cá đực, cá cái từ khi cá còn nhỏ, cỡ 6- 7cm, dựa vào quan sát vùng lỗ huyệt (hình 2):

+ con đực: có 2 lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là rãnh huyệt (huyệt niệu- sinh dục).

+ con cái: có 3 lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là lỗ niệu và ở giữa là lỗ sinh dục.

 

2. Kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi

2.1. Chuẩn bị ao cá đẻ và mật độ thả cá bố mẹ

Diện tích ao cho đẻ không có giới hạn nhưng không nên quá nhỏ và quá lớn. Thích hợp nhất là ao có diện tích từ 200- 1000m2, độ sâu 0,5- 1,0m (xung quanh bờ có độ sâu 0,5m và ở giữa ao sâu 1m), nền đáy ao phù hợp để cho cá làm tổ là cát pha sét. Tát cạn, phơi đáy, lọc nước, bón phân gây màu cho ao trước khi thả cá bố mẹ vào ao.

Mật độ thả cá bố mẹ: 50 con/ 100m2.

Khối lượng cá bố mẹ: 150- 400 g/con.

Tỷ lệ đực: cái là 1:2 hoặc 1:3.

 

2.2. Cá đẻ và các hình thức thu cá bột

Ở nhiệt độ thích hợp từ 24- 32oC, trong vòng một tuần kể từ khi thả cá bố mẹ từ ao nuôi vỗ vào ao cá đẻ thì cá bắt đầu tham gia đẻ và sau 2 tuần có thể tiến hành thu cá bột.

Các hình thức thu cá bột sau đây thường được áp dụng:

- Chuyển cá bố mẹ từ ao cá đẻ sang ao khác để nuôi vỗ tiếp cho cá đẻ lứa tiếp theo và dùng chính ao cá vừa đẻ làm ao ương cá bột.

- Dùng vợt vớt hết cá bột chuyển sang ao ương riêng. Vớt cá bột khá dễ dàng vì cá bột thường bơi quanh bờ ao; kích thước cá bột ở thời điểm này là 1,4- 1,6cm.

Để thuận tiện cho việc thu trứng và cá bột mới nở để ương ấp riêng, có thể cho cá đẻ trong giai lưới (mắt dầy) cắm trong ao, kích thước của giai 4- 10m2. Khi thu trứng và cá bột, dùng tay bóp hai bên miệng cá, xúc miệng cá mẹ vào chậu nước sạch để cá nhả trứng và cá bột ra. Bằng cách này có thể thu được một số lượng lớn cá bột có cùng lứa tuổi để tiến hành ương thành cá giống.

 

2.3. Ương cá bột lên cá hương và cá giống

Tương tự như khi ương các loài cá khác, ao ương cá rô phi vằn cũng cần được tẩy dọn, lọc nước, bón phân gây màu nước trước khi thả cá. Mật độ ương cá bột lên cá hương là 100 con/m2. Thức ăn tinh bổ sung gồm cám gạo là chính, có thêm bột đậu tương, bột cá; lượng thức ăn hàng ngày cho cá ăn bằng 5- 7% khối lượng cá có trong ao.

Thời gian ương từ bột lên hương là 21 ngày. Thời gian ương từ cá hương lên cá giống là 1 tháng; cá sẽ đạt được đến cỡ 20 g/con.

 

3. Kỹ thuật nuôi cá rô phi thương phẩm

3.1. Nuôi ghép trong ao với các loài cá khác

- Cá rô phi là đối tượng nuôi chính trong thành phần cá nuôi ghép: Thường trong thành phần đàn cá nuôi ghép bao gồm cá rô phi, mè hoa, mè trắng, trắm cỏ, rôhu, mrigan và cá chép.

Tỷ lệ ghép: rô phi 50%; mè trắng 15%; mè hoa 5%; rôhu 10%; mrigan 10%; trắm cỏ 5% và chép 5%.

Mật độ thả: 2 con/m2. Cỡ cá thả: 20 g/con.

Nuôi theo hình thức bán thâm canh, dùng phân bón là chính, có bổ sung thêm thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, sắn; lượng cho ăn hàng ngày: 2- 3% khối lượng cá có trong ao.

Từ cuối tháng tư trở đi, mỗi tháng tiến hành đánh tỉa cá rô phi một lần để tỉa bớt cá rô phi cỡ lớn (150 g trở lên); số cá rô phi giống do cá sinh sản tự nhiên được giữ lại để nuôi tiếp.

- Cá rô phi không phải là đối tượng nuôi chính trong ao: Trong trường hợp nuôi ghép với các loài cá chính khác thì tuỳ theo môi trường ao nuôi cụ thể mà nuôi ghép rô phi với tỷ lệ thích hợp. Mục đích thả ghép cá rô phi là để tận dụng thức ăn tự nhiên thừa trong ao và làm tăng năng suất ao nuôi.

 

3.2. Nuôi đơn cá rô phi

 - Nuôi các cỡ cá trong cùng một ao từ khi thả đến khi thu hoạch: Hình thức này nuôi phổ biến trong các ao của gia đình. Khi tha chỉ cần số lượng cá giống nhất định, có thể là vài chục con/ 100m2. Sau vài tháng nuôi, cá bắt đầu sinh sản tự nhiên và cứ giữ nguyên ao nuôi chung cá con và cá bố mẹ. Trong ao nuôi sẽ có rất nhiều cỡ cá khác nhau. Có thể thường xuyên đánh tỉa khi thấy mật độ cá trong ao quá dầy. Hình thức nuôi này đơn giản nhưng có hạn chế là không kiểm sát được mật độ cá thả, cỡ cá thương phẩm nhỏ.

 

 - Nuôi cá đến khi cá sinh sản lần đầu xong thì thu hoạch cá bố mẹ, để lại một phần hay toàn bộ cá giống trong ao để nuôi đến cỡ cá thương phẩm rồi thu hoạch hết một đợt. Do cá đẻ ở những thời điểm khác nhau nên mặc dù trong cùng lứa đẻ lần đầu, đàn cá nuôi cũng có nhiều cỡ khác nhau.

 - Nuôi riêng từng nhóm tuổi và từng cỡ cá: Lựa chọn trong ao ương những cá giống có cùng cỡ và cùng lứa tuổi để thả riêng vào ao nuôi thành cá thịt. Chỉ nuôi trong vìng 4- 5 tháng rồi thu hoạch hết một đợt. Cách nuôi này sẽ kiểm soát được mật độ cá thả và cỡ cá khi thu hoạch cũng sẽ khá đồng đều.

 

 - Nuôi cá rô phi toàn đực: Hình thức nuôi này có nhiều ưu điểm.

+ Kiểm soát được mật độ cá thả

+ Cá lớn nhanh hơn do toàn bộ là cá đực

+ Cỡ cá thương phẩm lớn đến mức nào là do người nuôi quyết định

+ Giá trị thương phẩm của cá và hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn

Tuy nhiên hình thức nuôi này có một số hạn chế như: mỗi khi bắt đầu thả nuôi vụ mới, người nuôi lại phải mất công lựa chọn cá đực bằng phương pháp thủ công hoặc phải mất tiền mua giống cá rô phi đơn tính đực…

 

4. Trú đông cho cá rô phi

Cá rô phi là loài kém chịu lạnh; cá chết khi nhiệt độ nước ao thấp dưới 12oC. ở miền Bắc nước ta về mùa đông, nhiệt độ nước ao có thể xuống tới 14- 20oC. Tháng rét nhất nhiệt độ nước ao có thể xuống tới 12- 13oC kéo dài trong nhiều ngày, ở nhiệt độ này có thể cáa rô phi sẽ chết hết. Vì thế cần phải có biện pháp giữ cá qua đông.

Có nhiều biện pháp trú đông cho cá, trong đó có những biện pháp dễ thực hiện như sau:

4.1. Tận dụng vùng nước ấm do các nhà máy công nghiệp thải ra để giữ cá qua đông, tuy nhiên nguồn nước ấm này phải không có chất độc hại.

4.2. Đào ao cá trú đông: Ao phải đào ở nơi khuất gió bắc, tận dụng được nhiều ánh sáng chiếu vào. Diện tích ao lớn, bé tuỳ theo số lượng cá định giữ qua đông; thường ở ao gia đình chỉ cần diện tích khoảng 70- 200m2. Độ sâu 2- 2,5m.

4.3. Chỉ nên thực hiện trú đông cho cá rô phi bố mẹ, vì thế số lượng cá trú đông không cần nhiều. Căn cứ vào nhu cầu cá giống cho năm sau mà quyết định số lượng cá bố mẹ được đưa vào ao trú đông. Thường một con cá cái cỡ 200- 300g có thể sản xuất được 300- 500 cá con cho một lứa đẻ; dựa vào đây mà quyết định số lượng cá bố mẹ cần đưa vào trú đông.

Tỷ lệ cá đực/ cá cái đưa vào trú đông là 1/ 2; mật độ 3- 5 con/m2.

4.4. Xử lý ao và cá trước khi đưa vào trú đông: Ao phải được tẩy dọn kỹ, diệt trừ mầm bệnh. Nước đưa vào ao phải được lọc và kiểm tra chất lượng nước.

Chọn cá khoẻ mạnh, không mang bệnh ký sinh, dùng các dung dịch hoá chất khử trùng trước khi thả cá vào ao trú đông: có thể tắm cho cá trong nước muối loãng có nồng độ 20- 30g muối trong 1 lit nước hoặc pha 5- 7 g muối sunphat đồng (phèn xanh) vào 1 m3 nước dùng để tắm cho cá.

4.5. Chăm sóc cá trong thời gian trú đông: Phải thường xuyên theo dõi chất lượng nước để tránh gây ô nhiễm cho nước ao cá trú đông (không bón phân hữu cơ, vô cơ và không để các loại chất thải, nước thải chảy xuống ao).

Cho cá ăn thức ăn giàu đạm bao gồm cám gạo, bột đậu tương, bột cá (trong đó bột cá và bột đậu tương chiếm tới 40%). Lượng thức ăn cho cá ăn mỗi ngày bằng 0,4% khối lượng cá nuôi trong ao trú đông.

 

5. Nuôi cá rô phi ở Việt Nam

Việt Nam đã xác định cá rô phi là đối tượng chiến lược trong NTTS.

* Cá rô phi đen O. mossambicus đã được nhập vào Việt Nam từ hơn 50 năm nay (Ngày đưa cá rô phi đen từ sân bay Gia Lâm về Trại cá Hà Đông năm 1951). Sau một thời kỳ nuôi rộ cá rô phi đen vào những năm 1960- 1970, do cá mắn đẻ lại không khống chế được quá trình sinh sản tự nhiên của cá, mặt khác người nuôi không có đủ thức ăn cho cá ăn nên cỡ cá nuôi cứ nhỏ dần, giá trị thương phẩm rất thấp; thậm chí sau này nhiều nơi chỉ dùng để làm thức ăn chăn nuôi lợn. Cá rô phi đen đã là nguồn đạm thực phẩm quan trọng, tại chỗ cho bộ đội và nhân dân, có vai trò to lớn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam. (Cá rô phi vằn ở các đơn vị bộ đội Tây Nguyên năm 1976)

 * Năm 1973 cá rô phi vằn O. niloticus được nhập từ Đài Loan vào các tỉnh phía Nam Việt nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, năm 1976 cá rô phi vằn

được chuyển từ miền Nam ra nuôi ở các tỉnh phía Bắc và đã được người tiêu dùng rất ưa chuộng do cá lớn nhanh, quy cỡ cá lớn, đẻ thưa và đẻ ít hơn...

Nhưng sau đó, do trình độ quản lý giống kém, dẫn đến có sự  có sự lai tạo hỗn hợp giữa hai loài cá rô phi đen và rô phi vằn. Kết quả là cá rô phi đen lại

chiếm ưu thế; người tiêu dùng lại không thích cá rô phi nữa. (Dự án thay cá trắm cỏ bằng cá rô phi của Viện 1 ở các tỉnh miền núi phía Bắc).

 * Do mở rộng quan hệ quốc tế, từ năm 1994 đến nay, Viện NCNTTS 1 liên tiếp nhận được nhiều dòng cá rô phi vằn O. niloticus thuần chủng của Ai Cập, Thái Lan, Philippin, Đài Loan và đa áp dụng nhiều công nghệ tiến bộ mới như chuyển giới tính cho cá rô phi để có cá rô phi đơn tính đực, nhập cá rô phi xanh O. aureus, tạo ra cá rô phi siêu đực... Những việc làm này đã và đang tạo ra bước chuyển biến mới về nuôi cá rô phi ở nước ta vươn lên ngang tầm với các nước lân cận trong khu vực Đông Nam á, một trung tâm của nghề nuôi cá rô phi trên thế giới hiện nay.

* Những thuận lợi trong việc phát triển nuôi cá rô phi là:

- Khả năng thích ứng với điều kiện môi tr­ường rất rộng. Nuôi đ­ược trong vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn tới 35- 40o/oo. Chịu đựng được giới hạn nhiệt độ từ 12- 45oC, chịu đựng đ­ược hàm l­ượng ôxy thấp 0,4mg/l. Có thể nuôi trong vùng nư­ớc thải thành phố, nư­ớc thải của chuồng trại chăn nuôi; cá lớn rất nhanh và có tác dụng làm sạch môi trường.

- Khả năng sử dụng phổ thức ăn rất rộng, từ sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ, các phần mềm của thuỷ sinh vật bậc cao đến giun, ấu trùng muỗi lắc, tôm, cá con. Nuôi trong ao ăn các loại thức ăn: cám, bột ngũ cốc, nhộng tằm, khô dầu đậu, lạc, bột cỏ, thức ăn tổng hợp.

- Thịt của cá thơm ngon, là nguồn đạm động vật dễ sản xuất, rẻ tiền.

- Quá trình nuôi ít có những dịch bệnh nghiêm trọng, quản lý đơn giản.

* Việt Nam chúng ta chưa có số liệu thống kê chính xác về sản lượng cá rô phi (có tài liệu nói khoảng 15 nghìn tấn/ năm). Tuy nhiên có thể nói nghề nuôi cá

rô phi của nước ta còn thua kém và có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực, mặc dù cá rô phi có lịch sử ở Việt Nam đã khá lâu. 

* Nhận định của Bộ Thuỷ sản về phong trào nuôi cá rô phi ở nước ta hiện nay:

+ giống nuôi lai tạp, chất lượng thấp.

+ mạng lưới sản xuất cá rô phi giống chất lượng cao còn đang ở giai đoạn sơ khai. Chưa có đàn cá bố mẹ tố, đủ về số lượng, kích cỡ. Công suất sản xuất

giống cá rô phi đơn tính còn rất nhỏ và không ổn định về chất lượng, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu giống cho nuôi cá rô phi, đặc biệt phục vụ xuất khẩu. 

+ diện tích cá thương phẩm phân tán, chưa có vùng nuôi trọng điểm, thiếu gắn kết với chế biến, bao tiêu sản phẩm. 

+ hình thức sản xuất rất khác nhau, một số hình thức nuôi chưa kiểm soát được chất lượng sản phẩm. 

* Bộ Thuỷ sản xác định cá rô phi là đối tượng chiến lược trong nuôi trồng thuỷ sản  từ nay đến 2010 và đề ra chương trình phát triển nuôi cá rô phi

thương phẩm phục vụ tiêu thụ nội địa ngày càng tăng và tạo nguồn nguyên liệu xuất khẩu.

Ba định hướng cơ bản để phát triển nuôi cá rô phi là:

+ Sử dụng triệt để các loại hình mặt nước (ngọt, lợ, mặn). Trong nước ngọt tập trung phát triển sản xuất giống và nuôi thương phẩm, nuôi tập trung ở các ao hồ nhỏ, ruộng trũng chuyển đổi cơ cấu, phát triển nuôi lồng bè ở các sông và hồ chứa nước.

+ Sử dụng giống cá rô phi có chất lượng cao (rô phi vằn dòng GIFT, dòng Thái Lan, dòng Đài Loan, dòng Swansea và cá rô phi hồng Đài Loan).

Để nuôi cá rô phi xuất khẩu phải sử dụng cá rô phi đơn tính đực được sản xuất từ các phẩm giống có chất lượng kể trên. Kết hợp nhập công nghệ tạo rô phi đơn tính bằng lai khác loài và tập trung hoàn thiện công nghệ sản xuất cá rô phi siêu đực hiện đang tiến hành trong nước.

Để nuôi cá rô phi phục vụ thị trường nội địa sử dụng cá rô phi đơn tính và cá hỗn hợp giới tính được sản xuất từ những dòng cá rô phi có chất lượng.

+ Đẩy mạnh nuôi thâm canh và bán thâm canh, sử dụng thức ăn chế biến, quản lý tốt chất lượng ao nuôi, thực hiện nuôi công nghệ sạch đảm bảo vệ sinh thực phẩm, đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường.

 * Một số giải pháp cần được thực hiện đồng bộ: về thị trường- về qui hoạch- về giống- về công nghệ- về thức ăn- về hợp tác quốc tế- về công tác khuyến ngư- về vốn.

 

Theo nhiều dự báo cá rô phi, sẽ tiếp tục phát triển mạnh trên thế giới do có những ưu thế: dễ nuôi, ít bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao, giá thành sản xuất thấp. ở nước ta, việc phát triển nuôi cá rô phi sẽ góp phần đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng tốt hơn các vùng nước ngọt hiện có. Nuôi cá rô phi trong nước lợ sẽ làm giảm rủi ro trong nuôi trồng thuỷ sản, là biện pháp cải tạo môi trường ao nuôi, đặc biệt ở những vùng nuôi môi trường đang suy thoái, góp phần tăng nhanh sản lượng cá thịt có giá trị dinh dưỡng cao ở nước ta.







CÁC TIN KHÁC
  An Giang: Xây dựng vùng nguyên liệu cá tra đạt chuẩn Global GAP
  Nuôi tổng hợp tôm sú, cá dìa và cua
  Hệ thống nuôi thủy sản khép kín (CSA): Giải pháp khả thi nuôi thủy sản sạch
  Đã có giống "tôm thẻ Viện III"
  Phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng ở Việt Nam
  Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Tráp vây vàng (Sparus latus Houttuyn) trong ao
  Kỹ thuật nuôi cầu gai bằng phương pháp giàn bè
  Nuôi động vật thân mềm là thế mạnh của thủy sản Khánh Hòa
  Mô hình áp dụng quy trình nuôi tôm sinh học ở vùng nuôi tôm quảng canh
  Cà Mau mở hướng đầu tư nuôi tôm sinh thái
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang