Số lượt truy cập:   576102


Cá ngừ Việt Nam – khuôn khổ pháp luật và hợp tác quốc tế
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 04/09/08-10:47:23


I. Vị trí cá ngừ thế giới và ở Việt Nam

          Cá ngừ là nguồn lợi thủy sản quý giá, là mặt hàng thực phẩm rất được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. ở Hoa Kỳ cá ngừ là mặt hàng thủy sản được người tiêu dùng sử dụng nhiều nhất sau Tôm. Còn ở Châu Âu, cá ngừ chiếm vị trí hàng đầu trong danh sách sản phẩm thủy sản được yêu thích cùng với cá Hồi và cá Alaska Pollack.

          Trong vòng 10 năm từ 1996 đến 2005, sản lượng đánh bắt cá ngừ trên thế giới đã tăng từ 3,3 triệu tấn lên 4,3 triệu tấn.

          Trong ba loài cá ngừ phổ biến ở khu vực Thái Bình Dương, cá ngừ mắt to Bigeye và cá ngừ vây vàng (hay ngừ đại dương) Yellowfin  đang bị đánh quá mức bền vững cho phép. Chỉ có loài cá ngừ vằn (ngừ sọc dưa) Skipjack còn khá và ở dưới đánh bắt tối đa cho phép.

          Nghề cá ngừ Việt Nam chủ yếu quy mô nhỏ, làm nghề câu là chính, không ảnh hưởng đến cá heo, thân thiện với môi trường.

          ở Việt Nam, theo các báo cáo, sản lượng cá ngừ hàng năm có khác nhau, song dao động trong khoảng từ 30.000 tấn đến 42.000 tấn.

          Giá trị xuất khẩu cá ngừ Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2007 là 70 triệu USD, trong đó thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản lần lượt là khoảng 19,8 triệu USD, 19,7 triệu USD và 8,2 triệu USD.

 

         II. Hợp tác quốc tế về cá ngừ

          1. Hợp tác trong lĩnh vực đánh bắt:

          - Tiếp tục với Nhật Bản (Như Công ty Khai thác và Dịch vụ Hải sản Biển Đông)

          - Có thể xem xét khả năng hợp tác về khai thác với accs nước trong khu vực như Philippin, Indonesia, các quốc đảo Nam Thái Bình Dương như Papua Neww Guinea, Palau (tháng 4/2006, PNG đã ký thỏa thuận cho phép 30 tàu lưới vây của Nhật vào khai thác trong vòng một năm với mức phí 3,2 triệu USD; Palau thì có thỏa thuận đánh bắt với Philippin).

          - Học tập kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Indonesia

         2. Hợp tác về nuôi trồng:

          - Nghiên cứu mô hình nuôi ở Nam úc (Bluefin Tuna).

         3. Chế biến xuất khẩu, tiêu thụ:

          - Học tập kinh nghiệm của Đài Loan, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Hàn Quốc, Colombia.

          - Nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada úc và xem xét thị trường Thái Lan, một trong các nước đứng hàng đầu thế giới về nhập khẩu cá ngừ tươi và đông lạnh.

 

         III. Khuôn khổ pháp luật quốc tế và việc tham gia của Việt Nam trong các thể chế khu vực và quốc tê liên quan đến cá ngừ trong thời gian tới

         1. Ngành Thuỷ sản Việt Nam nói chung và nghề cá ngừ nói riêng hiện nay đang và sẽ bị chi phối bởi các thiết chế và các quy định quốc tế chính như sau:

         - Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Ta phải tuân thủ các quy định của Tổ chức này. Trong các quy định của WTO, cần lưu ý các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp.

         - Thực hiện Lộ trình Hội nhập thuỷ sản ASEAN nhằm tiến tới một Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2010 như nguyên thủ quốc gia trong khối đã thoả thuận.

         - Việt Nam, ASEAN và SEAFDEC đang cùng bàn thảo về khả năng thiết lập một cơ chế quản lý nghề cá khu vực nhằm đảm bảo phát triển bền vững nghề cá và an toàn vệ sinh thực phẩm.

         - Việt Nam là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế. Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.

         - Việt Nam ủng hộ Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO. Như vậy Bộ Quy tắc này đề cập đến mọi lĩnh vực nghề cá. Song Bộ Quy tắc cũng nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng, công bằng và quyền sống của khu vực nghề cá quy mô nhỏ. Đồng thời nêu rõ nhu cầu của các nước đang phát triển trong việc nhận trợ giúp từ bên ngoài nhằm nâng cao năng lực mới có thể thực hiện được Bộ Quy tắc ứng xử này.

        - Hội đồng FAO đã thông qua bốn Kế hoạch hành động quốc tế (IPOA) tự nguyện trong các năm 2000 và 2001 dựa trên Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm. Cụ thể gồm: Kế hoạch nhằm giảm sản phẩm phụ là chim biển trong nghề câu vàng; kế hoạch bảo vệ và quản lý cá mập; quản lý công suất khai thác cá; và năng ngừa, phòng chống và xóa sổ các hoạt động đánh cá trái phép, không báo cáo và không được quản lý (IUU).

        - Tham gia đóng góp vào việc thực hiện Hiệp định Nguồn lợi cá phân tán và di cư cao Liên hiệp quốc và Hiệp định FAO về việc thúc đẩy tuân thủ các biện pháp bảo vệ và quản lý quốc tế của tàu cá ở vùng biển khơI năm 1995.

        - Tham gia tích cực váo các hoạt động của FAO, SEAFDEC và APFIC.

        - Nghề cá các nước, kể cả các quốc gia A SEAN và Việt Nam cũng bị chi phối bởi ảnh hưởng của các tổ chức Phí Chính phủ NGO như các Tổ chức Conservation International, Greenpeace, The Nature Conservancy, World Conservation Union, and WWF – The Global Conservation Organization. Hai Tổ chức NGO khác là Marine Stewarship Council (MSC, 1997) và Marine Aquarium Council (MAC, 1998) cũng đang làm nhiệm vụ thúc đẩy nghề cá thực phẩm và nghề cá cảnh. Hai tổ chức này đang làm nhiệm vụ thúc đẩy nghề cá bền vững thông qua việc thiết lập các chương trình tiêu chuẩn và chứng nhận hay “dán nhãn mác sinh thái”.

          2. Xem xét tham gia các hoạt động của Uỷ ban Nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPFC):

          - Uỷ ban Nghề cá Tây và Trung Thái Dương (WCPFC) được thíêt lập nhằm thực hiện mục tiêu của Công ước về Bảo vệ và Quản lý nguồn lợi cá di cư cao ở biển tây và trung Thái Bình Dương (Công ước bắt đầu có hiệu lực từ tháng 6/2004). Uỷ ban là một trong các tổ chức quản lý nghề cá khu vực đầu tiên sau ngày Hiệp định về nguồn lợi cá của Liên hợp quốc (UN Fish Stock Agreement) được thông qua năm 1995, Ban Thư ký Uỷ ban đóng tại Quốc đảo Federated States of Micronesia. Cho đến ngày 22/12/2006, Tổ chức này có 26 quốc gia – nền kinh tế thành viên, bao gồm phần lớn các quốc đảo Thái Bình Dương. Hoa Kỳ chính thức trở thành thành viên từ ngày 27/7/2007. Trung Quốc, Đài Loan, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin cũng đã phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này.

         WCPFC là tổ chức quản lý nghề cá khu vực có nhiệm vụ bảo vệ nguồn cá di cư cao ở khu vực Biển Tây và Trung Thái Bình Dương, nơi có 60% nguồn cá ngừ thế giới. Uỷ ban có nhiệm vụ xác định sản lượng khai thác tối đa cho phép (TAC), phân bổ côta cho các nước thành viên và quy định về các phương pháp đánh bắt.

          - Ngày 26/7/2007, ông Andrew Wright, Giám đốc điều hành của Uỷ ban này đã thăm Việt Nam và gặp Thứ trưởng Lương Lê Phương. Trong buổi tiếp xúc chính thức với cấp cao của ngành Thuỷ sản, ông Giám đốc điều hành vận động Việt Nam tham gia Uỷ ban này.

          Ngoài buổi tiếp xúc cấp cao này, phía Uỷ ban cũng đã một vài lần tiếp xúc đặt vấn đề với Việt Nam ở các diễn đàn không chính thức.

         Tuy vậy, có khó khăn đối với Uỷ ban này. Thứ nhất, Uỷ ban phải có nghiên cứu, báo cáo chuẩn xác về sản lượng đánh bắt đối với từng loại cá cụ thể (chẳng hạn các số liệu do Philippin và Indonesia đưa ra là khác nhau); Thứ hai, phương thức phân bổ/xác định quyền lợi của các thành viên; Thứ ba, ủy ban phải đưa ra được một chương trình quản lý và giám sát thực thi hiệu quả để đảm bảo các quyết định của Uỷ ban được thực hiện.

         IV. Kiến nghị

         - Để đảm bảo phát triển kinh tế, tăng trưởng của ngành Thuỷ sản cũng như giúp ngư dân địa phương, cần tiếp tục phát triển nghề cá ngừ, bao gồm cả khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ.

         - Tăng cường mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế, thị trường. Học hỏi kinh nghiệm các nước, các tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực liên quan đến phát triển cá ngừ.

         - Tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, thực hiện đầy đủ các cam kết và trách nhiệm của Việt Nam trong các Công ước, thoả thuận quốc tế.

         - Cá ngừ là loài cá di cư cao. Môi trường sinh sống của cá ngừ thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia khác nhau. Việc khai thác cá ngừ ở một nước có thể ảnh hưởng đến nguồn lợi của nhiều nước. Vì vậy, việc phối hợp hành động chung giữa các quốc gia để bảo vệ, quản lý hiệu quả nguồn lợi này là cần thiết.

         Việt Nam là quốc gia khai thác cá ngừ thuộc phạm vi thẩm quyền của WCPFC. Nên cần xem xét tham gia các hoạt động của Tổ chức này. Tham gia vào WCPFC ta có thể tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức này cũng như có được số liệu đầy đủ hơn về nguồn lợi phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

         Song, trước khi quyết định tham gia, cần tìm hiểu thêm về các trách nhiệm cũng như quyền lợi khi tham gia vào Uỷ ban, cũng như nghiên cứu khinh nghiệm của các nước khi tham gia vào Uỷ ban./.

Vụ hợp tác quốc tế Bộ Thủy sản
(nay là Bộ NN&PTNT)




CÁC TIN KHÁC
  Ngăn chặn khai thác hải sản 'nhầm' ở vùng biển nước ngoài
  Vì sao các vụ cháy “tàu cá 67” gia tăng?
  EU dỡ bỏ "thẻ vàng" đối với hải sản của Philippines
  Cơ quan chức năng và ngư dân cùng... mơ hồ về 'thẻ vàng' của EU
  Hệ thống lạnh hỗn hợp trên tàu lưới kéo xa bờ tại Bình Thuận
  Ai Cập - thị trường tiềm năng của thuỷ sản Việt Nam
  Thị trường xuất khẩu cá tra, basa hứa hẹn khởi sắc
  Bạc Liêu: Tàu thuyền ra khơi khai thác hải sản ngày càng nhiều
  Xuất khẩu thủy sản: Chạy đua cán đích 4,25 tỷ USD
  Tháng 7/2008: Xuất khẩu thuỷ sản đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 3 năm
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang