Số lượt truy cập:   572930


Nuôi động vật thân mềm là thế mạnh của thủy sản Khánh Hòa
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 06/05/08-10:52:49


I.  TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NUÔI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM Ở KHÁNH HÒA

1. Tiềm năng

Tỉnh Khánh Hòa có những thuận lợi rất cơ bản để phát triển nghề nuôi ĐVTM, đó là:

Diện tích vùng triều, eo vịnh, đầm phá ven biển, khu vực cửa sông rất lớn trong đó có nhiều vùng rất thích hợp cho phát triển nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế, đặc biệt là các đầm, vịnh như đầm Nha Phu, vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong.

Số lượng thành phần lòai động vật thân mềm phân bố tự nhiên ở biển Khánh hòa khá lớn trong đó có nhiều lòai có giá trị kinh tế cao như bào ngư, tu hài, hầu, vẹm xanh, trai ngọc môi vàng, trai môi đen, ốc nón, ốc nhảy, ốc tai tượng …

Các đối tượng ĐVTM có giá trị kinh tế như vẹm, hầu, ốc hương, bào ngư, ốc nhảy  là những thực phẩm thông dụng, có thị trường tiêu thụ rất lớn trong nước và xuất khẩu. Hầu hết các lòai đều đã được nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm thành công tại Khánh Hòa.

Với đặc tính dinh dưỡng là ăn lọc và sử dụng thức ăn tự nhiên, các lòai hai mảnh vỏ như vẹm, hầu, trai ngọc được coi là đối tượng nuôi thân thiện với môi trường và là đối tượng sử dụng trong nuôi kết hợp với các đối tượng ăn động vật như ốc hương, tôm hùm, cá mú nhằm làm cân bằng môi trường, giảm thiểu ô nhiễm. Bào ngư sử dụng rong câu làm thức ăn cũng được xem là đối tượng nuôi không gây ô nhiễm môi trường.

Phát triển nuôi động vật thân mềm kết hợp với các lòai khác sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn cho xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo cho ngư dân ven biển và các đảo, giúp họ chuyển đổi nghề nghiệp, giảm áp lực khai thác vùng biển ven bờ và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.

2. Thách thức

Nguồn giống cho nuôi thương phẩm các đối tượng như hầu, điệp, nghêu, sò huyết chủ yếu dựa vào tự nhiên nên thiếu tính chủ động do nguồn giống tự nhiên chỉ có ở một số vùng nhất định và sự quản lý khai thác không hợp lý nên sản lượng bấp bênh, một số vùng cạn kiệt nguồn lợi.

Các đối tượng quí hiếm như ốc hương, bào ngư , tu hài đã có giống sản xuất nhân tạo nhưng số lượng còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu về con giống để phát triển nghề nuôi và phục hồi nguồn lợi.

Cơ sở chuyên sản xuất giống ĐVTM còn ít, nhỏ lẻ và thiếu tập trung. Các cơ sở nuôi còn thiếu sự đầu tư, năng suất nuôi thấp, nguồn giống thiếu chủ động nên hạn chế việc mở rộng diện tích nuôi.

Việc triển khai phát triển các mô hình nuôi công nghiệp ĐVTM (bào ngư, tu hài, hầu, ốc hương) chưa được phổ biến rộng rãi mặc dù đã có các mô hình nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao.

Mô hình trang trại nuôi ĐVTM kết hợp du lịch sinh thái được nhiều nước như Thái lan, Indonesia, Trung Quốc thực hiện nhưng chưa được ứng dụng ở Việt Nam. Khánh Hòa có tiềm năng phát triển mô hình này nếu có sự quan tâm  của địa phương và các nhà đầu tư.

II. MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI ĐVTM Ở KHÁNH HÒA.

1. Mô hình sản xuất giống và nuôi bào ngư của trại Hải Thành tại huyện Vạn Ninh.

Đây là cơ sở đầu tiên ở Việt Nam sản xuất giống bào ngư ở qui mô sản xuất. Với công suất bể ương nuôi giống gần 2000 m3, Hải Thành có thể sản xuất mỗi năm từ 2-3 triệu con giống bào ngư. Năm 2007, do nhu cầu tiêu thụ giống bào ngư không cao nên Hải Thành đã sử dụng hệ thống hồ bể trên để nuôi thương phẩm. Kết quả sau 10 tháng nuôi, sản lượng bào ngư thương phẩm thu họach từ trại và lồng nuôi đạt 2 tấn. Với giá bán 140000-150000 đ/kg, lợi nhuận thu được sau khi trừ chi phí đạt 30-40%.

Giống Bào Ngư sau 2 tháng nuôi

      Ngòai ra, Hải Thành đã cung cấp giống cho một số hộ dân ở Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa nuôi thử nghiệm. Dự án Hòn Mun đã mua giống của Hải Thành để hỗ trợ cho dân xây dựng mô hình chuyển đổi sinh kế. Mô hình thực hiện tại Vũng Ngán, Đầm Báy với số lượng bào ngư nuôi là 5 vạn con. Từ kích cỡ giống 1,5-2 cm (1000 con/kg),  sau 8 tháng nuôi bào ngư đạt kích cỡ 4,5-5cm (20-25 con/kg), tỉ lệ sống đạt 80%. Số bào ngư này đang được tiêu thụ tại thị trường trong nước và xuất sang Hồng Kông ở dạng tươi sống với giá bán tại bè nuôi là 150.000đ/kg.

Bào Ngư nuôi trong mô hình chuyển đổi sinh kế của dự án ở

Vũng Ngán

Hiện tại, giống bào ngư sản xuất ra còn ít và giá khá cao, nguồn thức ăn (rong câu) chưa chủ động nên người nuôi còn e ngại trong việc đầu tư nuôi bào ngư. Nếu công nghệ sản xuất giống bào ngư được phổ biến rộng rãi, kỹ thuật nuôi rong được phổ biến và nhân rộng, nghề nuôi bào ngư chắc chắn sẽ phát triển mạnh và bào ngư sẽ là đối tượng nuôi mới cho xuất khẩu ở Khánh Hòa.  Ngoài mô hình nuôi bào ngư trong lồng, hiện nay Viện Nghiên cứu NTTS III đang nghiên cứu nuôi bào ngư công nghiệp trong bể xi măng và nuôi trong ao. Hy vọng các kết quả nghiên cứu sẽ sớm được phổ biến áp dụng để có thể chuyển đổi đối tượng nuôi cho các trại sản xuất giống và nuôi tôm kém hiệu quả hiện nay ở Khánh Hòa.

2. Mô hình nuôi tu hài ở Điệp Sơn, vịnh Vân Phong.

Thực hiện đề tài nghiên cứu của tỉnh Khánh Hòa, năm 2006-2007 Viện Nghiên cứu NTTS III đã sản xuất giống thành công lòai tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas, 1844) có nguồn gốc ở Vịnh Vân Phong.  

Giống Tu hài sản xuất tại Viện NCNTTS III    

 

Tu hài  nuôi thương phẩm sau 10 tháng ở Điệp Sơn  

Mô hình nuôi thương phẩm tu hài trong ao và nuôi lồng trên biển đã được triển khai  tại một số khu vực của tỉnh Khánh Hòa. Mặc dù chưa thu hoạch nhưng theo dõi sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của tu hài ở các mô hình nuôi cho thấy có nhiều tín hiệu khả quan. Tu hài nuôi trong lồng tăng trưởng rất nhanh về kích thước ở giai đoạn đầu (tháng thứ nhất tăng 19 mm). Tu hài tăng trưởng nhanh về khối lượng từ tháng thứ 5 trở đi và đạt 30g/con vào tháng thứ 9, tỷ lệ sống đạt 96%. Kết quả này cho thấy biển Khánh Hòa có điều kiện môi trường thuận lợi cho tu hài phát triển.

Mô hình nuôi tu hài trong ao  

Nuôi tu hài trong ao đáy cát, san hô có tốc độ tăng trưởng tương đương với nuôi ở biển ở những tháng đầu tiên. Những tháng về sau tốc độ phát triển chậm lại, có thể do điều kiện môi trường trong ao chưa thích hợp nhất là điều kiện nhiệt độ. Tỷ lệ sống của tu hài đạt 70% sau 6 tháng nuôi, thấp hơn nuôi ở biển. Kết quả nuôi thử nghiệm ban đầu cho thấy tu hài có thể nuôi được trong ao nhưng cần nghiên cứu tạo điều kiện môi trường thích hợp hơn để nâng cao tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của tu hài.

Kích thước tu hài sau 6 tháng nuôi trong ao

Hiện nay đã có một số hộ dân và cơ sở tham gia thực hiện mô hình nuôi tu hài. Tại Khánh Hòa có mô hình nuôi lồng của anh Minh, anh Lâm, anh Rỡ ở Điệp Sơn, Công ty 128 ở Cam Ranh; mô hình nuôi đìa của anh Diện tại Xuân Tự, anh Thành tại Ngọc Diêm. Tại Phú Yên có hộ anh Hoàng nuôi tại Vũng La, Sông Cầu. Mô hình nuôi thử nghiệm tại Vũng Tàu, Trường Sa, Phú Quốc bước đầu cho kêt quả tốt.àu, Trường Sa, Phú Quốc bước đầu cho kêt quả tốt. Hy vọng rằng nghề nuôi tu hài tại các tỉnh phía Nam sẽ phát triển mạnh trong những năm tới (nguồn tin và hình từ đề tài).

3. Mô hình nuôi ốc hương trong ao ở Xóm Quán, Ninh Hòa.

      Đây là mô hình nuôi của Trung tâm tư vấn, sản xuất và dịch vụ khoa học công nghệ thủy sản thuộc Viện Nghiên cứu NTTS III. Kết quả nuôi thương phẩm ốc hương theo qui trình nuôi mới được tổng kết trong 2 năm như sau: 

Đơn vị: 1.000 đồng

Chỉ tiêu

2006

2007

Diện tích ao nuôi (ha)

1,05

1,05

      Diện tích đăng chắn nuôi ốc (m2)

4.500

4.500

Số lượng giống (vạn con)

60,0

70,0

Kích cỡ giống (con/kg )

4000

4000

Mật độ thả/diện tích đăng chắn nuôi ốc (con/m2)

400

467

Mật độ thu hoạch/diện tích đăng chắn (con/m2)

133

156

Mật độ thu hoạch/diện tích ao (con/m2)

57,1

66,7

Thời gian nuôi (tháng)

8

6

Lượng thức ăn tiêu thụ (tấn)

19,0

13,6

Sản lượng ốc thu hoạch (tấn)

7,17

5,2

Cỡ ốc thu hoạch (con/kg)

81

120

Đơn giá bán (trịệu đồng/tấn)

110

165

Doanh thu (triệu đồng)

791,2

858,0

Chi phí (triệu đồng)

403,4

347,7

Tổng lãi (triệu đồng)

387,8

510,3

Tỉ lệ sống (%)

96,8

89,1

Hệ số thức ăn (kg thức ăn/kg ốc)

2,7

2,6

Năng suất (tấn/ha diện tích ao)

6,83

4,95

Năng suất (kg/m2 diện tích đăng chắn)

1,59

1,16

Năng suất (kg/vạn giống)

120

74

Với mô hình nuôi đã được cải tiến này cho thấy có thể kéo dài thời gian nuôi đến 8 tháng (hoặc dài hơn), nhờ đó ốc nuôi đạt kích thước lớn và năng suất/đơn vị diện tích cao hơn. Hệ số thức ăn sử sụng thấp hơn từ 1,5-1,8 lần so với trước đây. Tốc độ tăng trưởng nhanh và đặc biệt tỉ lệ sống đạt rất cao (80 - 95% so với 50-65% trước đây). Kết quả trên đạt được là do áp dụng kỹ thuật nuôi mới, sử dụng máy đa năng – một sáng chế mới để tạo ra máy vừa làm vệ sinh ao vừa thu họach ốc – giúp cho môi trường đáy ao luôn được kiểm sóat và vì vậy khả năng phát bệnh ở ốc nuôi trong ao cũng được hạn chế.

Sử dụng máy đa năng trong vệ sinh ao

 

Thu họach ốc hương bằng máy đa năng

Sự thành công của mô hình nuôi ốc hương trong ao có sử dụng máy đa năng đã mở ra triển vọng phát triển bền vững nghề nuôi ốc Hương xuất khẩu ở khu vực Miền Trung. Mô hình này có thể giúp cho các tỉnh Miền Trung chuyển đổi diện tích ao nuôi tôm ở vùng triều và trên cát không hiệu quả sang nuôi ốc hương. Khánh Hòa và Ninh Thuận là 2 tỉnh đã chuyển đổi thành công từ nuôi tôm sang nuôi ốc hương trong ao và nhiều hộ nuôi thu lợi lớn ở vụ nuôi ốc hương vừa qua do ốc không bị bệnh và được giá (tin từ Bản tin Viện Nghiên cứu NTTS III)

       ốc hương thương phẩm

 

Đăng chắn nuôi ốc hương trong ao

4. Mô hình nuôi vẹm xanh ở đầm Nha Phu, vịnh Cam Ranh.

 Vẹm xanh được nuôi phổ biến ở đầm Nha Phu và Vịnh Cam Ranh. Nguồn giống khai thác tự nhiên ngay trong khu vực nuôi. Thông thường người dân dùng cọc có quấn lưới cũ để thu giống. Cũng có thể thu giống vẹm con bám trên vẹm nuôi thương phẩm trong đầm. Sản lượng vẹm xanh nuôi ở Khánh Hòa rất lớn (5000 tấn/năm) và là nguồn thu nhập chính của ngư dân sinh sống quanh đầm Nha Phu. Vẹm xanh cũng được nuôi kết hợp với tôm hùm lồng để vừa làm thức ăn vừâ giảm thiểu ô nhiễm môi trường. 

 Cọc quấn lưới thu giống vẹm tự nhiên ở đầm Nha Trang

 

 Ương vẹm giống trong rổ treo

 

Nuôi thương phẩm vẹn xanh ở Vịnh Cam Ranh

 

5. Mô hình nuôi kết hợp ốc hương-hải sâm-rong câu trong ao.

 Mô hình thử nghiệm của Viện Nghiên cứu NTTS III tại Ninh Hoà và Vạn Ninh cho kết quả rất khả quan. Ao nuôi tôm diện tích 5000 m2 được chắn đăng 1/3 diện tích để nuôi ốc hương. Phần diện tích ngòai đăng thả nuôi hải sâm và trồng rong câu. Chất thải của ốc hương được hải sâm sử dụng thông qua việc ăn các mùn bã hữu cơ trong đáy ao làm giảm lượng chất thải của ốc hương, giúp đáy ao luôn sạch sẽ. Hàm lượng các chất dinh dưỡng hòa tan như N, P từ thức ăn tươi nuôi ốc hương được rong câu hấp thụ và vì vậy giảm sự ô nhiễm môi trường nước trong ao nuôi. Trong mô hình này, qua theo dõi tốc độ tăng trưởng của ốc hương, hải sâm và sinh lượng rong câu đều cao hơn so với nuôi đơn từng đối tượng. Hiện nay giá hải sâm nuôi bán tại ao từ 30.000-40.000đ/kg (lọai 400 g/con), giá rong câu từ 500-1000đ/kg nên chúng cũng đem lại khỏan thu nhập đáng kể bên cạnh sản phẩm chính là ốc hương. Mô hình trên cần nhân rộng ở những vùng nuôi có đủ điều kiện (độ mặn ổn định, đáy cát bùn) và là mô hình nuôi sinh thái có khả năng tái tạo môi trường đáy ao nuôi tôm.

 

 

Nguyễn Thị Xuân Thu
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III




CÁC TIN KHÁC
  An Giang: Xây dựng vùng nguyên liệu cá tra đạt chuẩn Global GAP
  Nuôi tổng hợp tôm sú, cá dìa và cua
  Hệ thống nuôi thủy sản khép kín (CSA): Giải pháp khả thi nuôi thủy sản sạch
  Đã có giống "tôm thẻ Viện III"
  Phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng ở Việt Nam
  Mô hình áp dụng quy trình nuôi tôm sinh học ở vùng nuôi tôm quảng canh
  Cà Mau mở hướng đầu tư nuôi tôm sinh thái
  Phát triễn sản xuất sản phẩm thủy sản không ô nhiễm, an toàn theo công nghệ sạch là xu thế của thời đại
  Hướng dẫn trị bệnh sữa trên tôm hùm bằng phương pháp tiêm kháng sinh Oxytetracyline
  TẬP HUẤN PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỮA TRÊN TÔM HÙM BẰNG KHÁNG SINH OXYTETRACYLINE
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang