Số lượt truy cập:   574235


Phát triễn sản xuất sản phẩm thủy sản không ô nhiễm, an toàn theo công nghệ sạch là xu thế của thời đại
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 02/05/08-10:13:40


 

Tổng quan

       Môi trường sinh thái xấu đi đang là thách thức nghiêm trọng đối với ngành thủy sản theo hướng phát triển bền vững, đồng thời đang tác động sâu sắc đến tính an toàn của thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Trước tình hình môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, cộng đồng quốc tế đã đặt ra yêu cầu khắt khe đối với thực phẩm nói chung và sản phẩm thủy sản nói riêng nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh cho sức khỏe con người.

      Trên thế giới có 3 loại đẳng cấp sản phẩm thủy sản không ô nhiễm, sản phẩm thủy sản sinh thái, sản phẩm thủy sản hữu cơ là những thực phẩm an toàn, có yêu cầu về môi trường sản xuất, tiêu chuẩn sản phẩm và đối tượng tiêu dùng khác nhau:

      Thứ nhất, sản phẩm thủy sản không ô nhiễm hay còn gọi là sản phẩm không gây hại, sạch, an toàn vệ sinh. Nội hàm là những sản phẩm sản xuất trong môi trường được tuân thủ quy trình sản xuất bảo đảm sản phẩm cuối cùng đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của Nhà nước hoặc đạt theo yêu cầu thực phẩm không ô nhiễm của ngành hàng. Đó cũng là những sản phẩm sơ cấp được cơ quan có thẩm quyền xác nhận có đủ tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ sản phẩm thủy sản không ô nhiễm mà cơ bản là đạt yêu cầu an toàn. Sản phẩm thủy sản không ô nhiễm là những sản phẩm không có chất ô nhiễm gây hại (gồm dư lượng thuốc kháng sinh, kim loại nặng, các vi sinh vật gây hại) hoặc các chất ô nhiễm gây hại được khống chế dưới mức cho phép. Việt Nam đã có tiêu chuẩn cho lọai sản phẩm này.

      Thứ hai, sản phẩm thủy sản sinh thái là sản phẩm được sản xuất trong điều kiện sinh thái không bị ô nhiễm hoặc ít bị ô nhiễm (tôm nuôi trong rừng ngập mặn). Sản xuất trong điều kiện sinh thái thì sản phẩm đó được coi là thực phẩm không ô nhiễm. Sản xuất thực phẩm theo công nghệ này phải tuân thủ các quy định của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền về sản xuất các mặt hàng an toàn, không ô nhiễm và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận được sử dụng tiêu chí sản phẩm sinh thái. Sản phẩm thủy sản sinh thái đạt tiêu chí quy định, được chia ra 2 cấp gồm cấp AA và cấp A. Sản phẩm thủy sản đạt tiêu chuẩn cấp A coi như đạt tiêu chuẩn thực phẩm không ô nhiễm, tức là đạt yêu cầu “an toàn, vệ sinh”, nếu đạt cấp AA coi như đạt tiêu chuẩn thực phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế. Việt Nam chưa có tiêu chuẩn thực phẩm sinh tháI.

      Thứ ba, sản phẩm thủy sản hữu cơ là sản phẩm sản xuất theo công nghệ sinh học khép kín và chế biến theo quy trình của sản phẩm hữu cơ, được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và cấp chứng chỉ. 

      Nghiêm cấm sử dụng các chất tổng hợp hóa học là một đặc trưng quan trọng của sản phẩm thủy sản hữu (trong nuôi trồng và chế biến), đồng thời luân canh, xen vụ, đa dạng sinh học không làm làm phá vỡ kết cấu của đất, vùng nước; việc phòng bệnh chủ yếu dựa vào các chế phẩm sinh học; sử dụng giống sạch; vùng nuôi phải có khoảng cách nhất định với vùng nuôi thông thường. Phương thức sản xuất thủy sản hữu cơ hướng tới thân thiện với thiên nhiên, không gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ đất, vùng nước lâu dài.

      ở các nước phát triển, nhu cầu vể thực phẩm hữu cơ phần lớn dựa vào nhập khẩu. Đức, Hà Lan, Anh, hàng năm nhập khẩu thực phẩm hữu cơ chiếm 60 - 70% tổng mức tiêu thụ về sản phẩm hữu cơ, giá cao hơn thực phẩm thông thường 20 - 50%, có khi tăng nhiều lần.

       ý nghĩa thực tiễn của việc sản xuất sản phẩm thủy sản không ô nhiễm, an toàn theo công nghệ sạch

        Một là, sản xuất thủy sản sạch nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của nhân dân. Loài người đang đòi hỏi quản lý chất lượng của thủy sản “từ biển, ao nuôi đến bàn ăn” với sản phẩm đưa vào tiêu dùng phải có chứng chỉ bảo đảm an toàn vệ sinh, không gây hại cho sức khỏe con người, không có thực phẩm gây ngộ độc. Không những vậy, con người còn phải vươn lên sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, nâng cao chất lượng đời sống của người tiêu dùng, đó cũng là đòi hỏi bức xúc của nhân loại;

      Hai là, sản xuất thủy sản an toàn sẽ thúc đẩy quá trình áp dụng công nghệ cao về sản xuất an toàn, tuân thủ tiêu chuẩn nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển thủy sản bền vững;

      Ba là, tăng cường thu hút đầu tư của nước ngoài và trong nước để nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng thủy sản trên thị trường trong ngoài nước;

      Bốn là, nâng cao sức cạnh tranh hàng thủy sản trên thị trường;

      Năm là, sản phẩm thủy sản không ô nhiễm tạo được giá trị gia tăng, góp phần hiện đại hóa nhanh ngành công nghiệp chế biến thủy sản;

      Sáu là, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất thủy sản (tổ chức lại sản xuất), tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho ngư dân, tăng ngoại tệ cho tỉnh và đất nước.

          Những thách thức của sản xuất sản phẩm thủy sản Việt Nam và Khánh Hòa sau khi gia nhập WTO

         Sản xuất sản phẩm thủy sản bao gồm ngành nuôi trồng thủy sản nội địa, trên biển, khai thác hải sản và chế biến thủy sản.

·      Thực trạng

* Sản phẩm hải sản khai thác được bảo quản chưa tốt sau thu hoạch, còn sử dụng hóa chất cấm (ướp phân urê); khai thác quá mức, cạn kiệt nguồn lợi;

    * Chưa có vùng nuôi (tôm, cá) an toàn (GAP) được cấp giấy chứng nhận;

                 * Ngành công nghiệp chế biến thủy sản của Khánh Hòa đang tiếp cận với trình độ khu vực và thế giới. Tuy nhiên, còn nhiều sản phẩm chất lượng thấp, công nghệ chế biến lạc hậu, chưa đảm bảo yêu cầu an toàn, vệ sinh, giá trị gia tăng qua chế biến thấp, hiệu ích kinh tế thấp;

                 * Chưa có mối liên kết chặt chẽ giữa người trực tiếp sản xuất (nuôi, khai thác) với các DN;

         * Hoạt động chứng nhận còn yếu, chưa được quan tâm thích đáng (chứng nhận về chất lượng, phương pháp quản lý, con người thực thi; vùng nuôi; con giống).

·      Phương hướng

                 * Trong điều kiện cụ thể của Khánh Hòa, vẫn chủ yếu phát triển sản xuất các sản phẩm không ô nhiễm để phục vụ nhu cầu đa số dân cư và xuất khẩu, tùy điều kiện sinh thái cụ thể của từng địa phương để quy hoạch và đầu tư từng bước phát triển sản xuất sản phẩm thủy sản sinh thái, sản phẩm thủy sản hữu cơ, nhằm thỏa mãn nhu cầu tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập cao và xuất khẩu.

                * Nhà nước cần đề ra định hướng phát triển, ban hành các quy định tương ứng, có chính sách khuyến khích đủ mạnh, xúc tiến nghiên cứu khoa học, ban hành các tiêu chuẩn, giúp cho ngành công nghệ này có điều kiện phát triển đáp ứng kịp nhu cầu bức xúc của thị trường, trước hết là nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

                * Phải có hệ thống giải pháp đồng bộ theo hướng sử dụng giống tốt để có chất lượng sản phẩm cao, phải bảo quản sau thu hoạch bằng quy trình hiện đại, phát triển chế biến sâu, phát triển công nghệ đóng gói hiện đại, phải sớm đề ra tiêu chí thực phẩm thủy sản sinh thái, hữu cơ, tạo ra nhiều thương hiệu đặc hữu của Việt Nam theo hướng an toàn, chất lượng cao.

·      Giải pháp

                 * Quy hoạch vùng nuôi không ô nhiễm, vùng nuôi sinh thái, vùng nuôi hữu cơ (kể cả nội địa và biển);

                 * Tăng cường công tác kiểm tra và thanh tra công tác ATVSTP;

                 * Tăng cường các hoạt động chứng nhận theo thẩm quyền của cơ quan Nhà nước; DN với các tổ chức quốc tế (ISO, HACCP...); khu vực (EU, ASEAN...); quốc gia (TCVN);

* Đầu tư chiều sâu để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm tại DN; khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại bảo quản sau thu hoạch trên các tàu cá;

                 * Xây dựng mô hình liên kết 4 nhà;

                 * Ngành công nghệ mới này phức tạp và xa lạ với thói quen của ngư dân và sức ỳ của phương thức sản xuất tiểu nông. Do vậy, tuyên truyền rộng rãi trong nông, ngư dân và hội viên Hội Nghề cá về phương thức sản xuất công nghệ sạch để hơn ai hết người dân phải từ bỏ những suy nghĩ truyền thống không phù hợp với thế giới đương đại, kịp thời chuyển tư duy cổ truyền sang tư duy hiện đại, chấm dứt cách làm ăn tùy tiện của kinh tế tiểu nông;

                * Tổ chức lại sản xuất thông qua các hình thức Hội, Quản lý trên cơ sở cộng đồng..., kết hợp công tác tập huấn, đào tạo; xây dựng mối liên kết giữa người trực tiếp sản xuất (nuôi, khai thác) với DN.

        * Nhà nước sớm ban hành các tiêu chuẩn về sản phẩm thủy sản sinh thái, hữu cơ.

Sau khi gia nhập WTO, ngành công nghệ mới này còn giúp cho sản xuất thủy sản của Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng có điều kiện vượt qua những rào cản thương mại, phát huy được lợi thế để xâm nhập thị trường các thành viên WTO phát triển, với khối lượng ngày càng lớn, hiệu quả kinh tế cao, đồng thời góp phần nâng cao uy tín của hàng thủy sản Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa./.

Th.S Võ Thiên Lăng
Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa




CÁC TIN KHÁC
  An Giang: Xây dựng vùng nguyên liệu cá tra đạt chuẩn Global GAP
  Nuôi tổng hợp tôm sú, cá dìa và cua
  Hệ thống nuôi thủy sản khép kín (CSA): Giải pháp khả thi nuôi thủy sản sạch
  Đã có giống "tôm thẻ Viện III"
  Phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng ở Việt Nam
  Hướng dẫn trị bệnh sữa trên tôm hùm bằng phương pháp tiêm kháng sinh Oxytetracyline
  TẬP HUẤN PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỮA TRÊN TÔM HÙM BẰNG KHÁNG SINH OXYTETRACYLINE
  TÁC HẠI CỦA MALACHITE GREEN
  PHÁC ĐỒ TRỊ BỆNH SỮA TRÊN TÔM HÙM BẰNG OXYTETRACYLINE
  Vai trò của quản lý cộng đồng trong việc khôi phục và phát trỉên nguồn lợi Vẹm xanh tại đầm Nha Phu, Khánh Hòa
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang