Số lượt truy cập:   573592
Các quy định pháp lý và các cơ q

NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

B.1. Nguồn lợi thủy sản

Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km với vùng đặc quyền kinh tế biển (EEZ) rộng hơn 1 triệu km2. Điều kiện địa lý vùng biển và các mặt nước nội địa của Việt Nam đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau đối với các loài thủy sinh vật. Có thể chia thành 4 dạng môi trường sống cơ bản đối với các loài thủy sinh vật : vùng nước mặn xa bờ, vùng nước mặn gần bờ, vùng nước lợ và vùng nước nội địa (vùng nước nước ngọt).

Theo các nghiên cứu khoa học, nguồn lợi hải sản Việt Nam có: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 653 loài rong biển, trong đó rong kinh tế chiếm 14% (90 loài), san hô (loài san hô cứng) tạo rạn có 298 loài, thuộc 76 giống, 16 họ và trên 10 loài  san hô sừng. Cá có trên 2.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế.

B.1.1. Vùng nước mặn xa bờ

Đây là vùng nước ngoài khơi thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế. Mặc dù khu vực này chưa có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi, nhưng những năm gần đây, hoạt động khai thác thuỷ sản đã diễn ra rất mạnh ở nhiều khu vực thuộc cả 5 vùng biển khơi : vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan.

Trên cơ sở các tài liệu đã có kết hợp với phân tích thực tiễn khai thác các vùng khơi những năm gần đây có thể thấy rằng, nguồn lợi hải sản vùng xa bờ của Việt Nam nhìn chung không giàu, mức phong phú trung bình, độ sâu càng lớn, mật độ càng giảm và nguồn lợi hải sản cũng ít phong phú.

         + Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao chỉ chiếm số lượng và tỉ lệ thấp.

         + Thành phần cá có giá trị kinh tế thấp (cá tạp) chiếm tỉ lệ cao.

Thực tế đánh bắt cho thấy, ở miền Bắc lượng cá có thể xuất khẩu trong sản lượng khai thác xa bờ chỉ chiếm khoảng 5 - 15% sản lượng. Ở vùng biển miền Trung chỉ có một số loài cá nổi lớn và mực có thể xuất khẩu. Tại khu vực Đông và Tây Nam Bộ, lượng cá xuất khẩu được trong tổng sản lượng cũng chỉ chiếm 20% - 30%. Tỉ lệ cá có thể dùng trực tiếp làm thực phẩm cho nhu cầu trong nước chỉ đạt khoảng 50% sản lượng đối với vùng biển Bắc và Trung Bộ và 40% đối với vùng biển Đông và Tây Nam Bộ. Lượng cá tạp trung bình thường chiếm khoảng 40%.

Nhìn chung, nguồn lợi mang tính phân tán, quần đàn nhỏ, nên khi tiến hành khai thác ở quy mô công nghiệp rất khó đạt hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa, điều kiện khí hậu thuỷ văn của vùng biển này rất khắc nghiệt, nhiều dông, bão, làm cho quá trình khai thác chịu nhiều rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất. 

B.1.2. Vùng nước mặn gần bờ

Là vùng sinh thái quan trọng nhất đối với các loài thủy sinh vật. Vùng này có nguồn thức ăn dồi dào do phù sa và các loại chất vô cơ cũng như hữu cơ hòa tan từ các cửa sông lạch đổ ra. Đó là nguồn thức ăn rất tốt cho các loài sinh vật bậc thấp và đến lượt mình chúng lại trở thành thức ăn cho tôm, cá. Vì vậy, vùng này là bãi sinh sản, cư trú, phát triển của nhiều loài thủy sản.

+ Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ là vùng sinh thái có sản lượng khai thác cao nhất, có thể chiếm tới 67% tổng lượng hải sản khai thác của Việt Nam.

+ Vịnh Bắc Bộ với hàng nghìn hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo, có thể nuôi các loài nhuyễn thể có giá trị như trai ngọc, vẹm xanh, vẹm nâu, hàu sông, hàu biển, bào ngư, sò huyết, sò lông, ngao dầu, ngao mật, ...

Đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho hoạt động khai thác khi phải chọn lựa các thông số kỹ thuật của ngư cụ sao cho vừa kinh tế, vừa có tính chọn lọc cao (các ngư cụ có khả năng đánh bắt một cách lựa chọn đối tượng cần khai thác). Nghề đánh cá biển của Việt Nam mang tính chất đa loài. Do kích cỡ cá cũng như kích cỡ quần đàn rất khác nhau nên cần có đội tàu đa dạng.

Đặc tính phong phú về loài nhưng số lượng cá thể mỗi loài lại không nhiều cũng gây khó khăn cho các nhà chế biến. Với mỗi mẻ lưới, nhất là đối với nghề lưới kéo (giã cào), phải rất mất công phân loại cá, tôm theo loài để xử lý, bảo quản và chế biến.

Vùng nước gần bờ từ 30 mét nước sâu trở vào đối với Vịnh Bắc Bộ và vùng biển Đông, Tây Nam Bộ và từ 50 mét nước sâu trở vào đối với vùng biển Trung Bộ là vùng khai thác chủ yếu của nghề cá Việt Nam. Mặc dù vùng nước này chỉ chiếm diện tích gần 17% tổng diện tích thềm lục địa, nhưng đã phải chịu áp lực khai thác rất cao (chiếm 70% lượng hải sản khai thác toàn vùng biển).

Nhiều nhà khoa học cho rằng, lượng hải sản vùng ven bờ đã bị khai thác quá mức, sản phẩm khai thác có cả các cá thể chưa trưởng thành hay cả những đàn đi đẻ. Tỷ lệ cá con ở vịnh Bắc Bộ hàng năm chiếm tới hơn 20 - 25%, thậm chí tới 40% tổng sản lượng cá khai thác.

Bảng 8: Tổng hợp kết quả đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt Nam

Vùng

biển

Loài cá

Độ

sâu

Trữ lượng

Khả năng khai thác

Tỷ lệ

(%)

Tấn

Tỷ lệ (%)

Tấn

Tỷ lệ (%)

 

Vịnh

Bắc Bộ

Cá nổi nhỏ

 

390.000

57,3

156.000

57,3

 

 

Cá đáy

<50m

39.204

5,7

15.682

5,7

 

>50m

251.962

37,0

100.785

37,0

16,3

Cộng

291.166

42,7

116.467

42,7

 

Cộng

 

681.166

100,0

272.467

100,0

 

 

Miền

Trung

Cá nổi nhỏ

 

500.000

82,5

200.000

82,5

 

 

Cá đáy

<50m

18.494

3,0

7.398

3,0

 

>50m

87.905

14,5

35.162

14,5

14,5

Cộng

106.399

17,5

42.560

17,5

 

Cộng

 

606.399

100,0

242.560

100,0

 

 

Đông

Nam Bộ

Cá nổi nhỏ

 

524.000

25,2

209.600

25,2

 

 

Cá đáy

<50m

349.154

16,8

139.762

16,8

 

>50m

1.202.735

58,0

481.094

58,0

49,7

Cộng

1.551.889

74,8

620.856

74,8

 

Cộng

 

2.075.889

100,0

830.456

100,0

 

Tây

Nam Bộ

Cá nổi nhỏ

 

316.000

62,0

126.000

62,0

 

Cá đáy

 

190.670

38,0

76.272

38,0

12,1

Cộng

 

506.679

100,0

202.272

100,0

 

Gò nổi

Cá nổi nhỏ

 

10.000

100,0

2.500

100,0

0,2

Toàn vùng

biển

Cá nổi đại

dương

 

300.000

 

120.000

 

7,2

 

Tổng

cộng

Cá nổi nhỏ

 

1.740.000

 

694.100

 

 

Cá đáy

 

2.140.133

 

855.885

 

 

Cá nổi đại

dương

 

300.000

 

120.000

 

 

Toàn bộ

 

4.180.133

 

1.669.985

 

100,0

Nguồn : Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng

Theo đánh giá của Viện Hải Sản, có thể nói, nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam đã bị khai thác với cường lực quá cao, thậm chí ở một số vùng gần bờ đã quá giới hạn cho phép. Những kết quả điều tra nguồn lợi hải sản gần đây nhất cho thấy, nguồn lợi hải sản gần bờ và xa bờ đều giảm nhiều so với 10 năm trước. Vì vậy, cần phải hạn chế và giảm dần cường lực khai thác, đồng thời cũng nên thận trọng khi phát triển đội tàu đánh cá. Khai thác hải sản của Việt Nam nên dừng lại ở mức tổng sản lượng hải sản không vượt quá 1,7 triệu tấn/năm. Việc phát triển nghề cá xa bờ nhằm giảm áp lực khai thác vùng ven bờ cần phải có kế hoạch đồng bộ bao gồm đội tàu, kỹ thuật khai thác, cơ sở hạ tầng, dịch vụ, dự báo ngư trường … nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. 

B.1.3. Vùng nước lợ

Vùng nước lợ là vùng nước cửa sông, ven biển và vùng rừng ngập mặn, đầm, phá. Nơi đây có sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra. Do được hình thành từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa (mưa hoặc khô) và thủy triều. Nồng độ muối vùng này luôn thay đổi. Đây là vùng giàu chất dinh dưỡng cho động, thực vật thủy sinh có khả năng thích nghi với điều kiện nồng độ muối luôn thay đổi, là nơi cư trú, sinh sản, sinh trưởng của tôm he, tôm nương, tôm rảo, tôm vàng, cá đối, cá vược, cá tráp, cá trai, cá bớp, cua biển, ...

Tổng diện tích mặt nước mặn lợ có khả năng đưa vào nuôi trồng thuỷ sản khoảng 965.000 ha bao gồm vùng triều 873.000 ha, eo vịnh 92.000 ha. Đây là vùng môi trường sống cho nhiều loài thủy đặc sản có giá trị như tôm, rong câu, các loài cua, cá mặn lợ. Đặc biệt, rừng ngập mặn là bộ phận quan trọng của vùng sinh thái nước lợ, nơi hình thành nguồn thức ăn quan trọng từ thảm thực vật cho các loài động vật thủy sinh và nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng giống hải sản. Vùng nuôi lợ vừa có ý nghĩa sản xuất, vừa có ý nghĩa không thay thế được trong việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Ở Đông Nam Á, trong vùng rừng ngập mặn đã thống kê được có 230 loài giáp xác, 211 loài thân mềm, hàng trăm loài cá và động vật không xương sống khác. Diện tích rừng ngập mặn ven biển Việt Nam giảm từ 400.000 ha xuống 250.000 ha. Những năm gần đây, việc phá rừng ngập mặn làm ao tôm và lấy củi đun đã làm mất đi hàng trăm hecta. Hiện diện tích rừng ngập mặn trong cả nước chỉ còn trên dưới 100.000 ha.

Ngoài ra, còn một số diện tích đất cát có thể sử dụng cho nuôi thuỷ sản, khoảng 20.000 ha, và một số vùng nước ven các đảo và bãi ngang. Các vùng nước lợ đang được huy động vào mục đích phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản nhất là nuôi tôm và các loại cá có giá trị cao phục vụ xuất khẩu.  

B.1.4. Vùng nước ngọt

Nước ta có những thuỷ vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi và các kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng. Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nguồn nước cho các thuỷ vực. Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm. Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có 80% diện tích các ao, hồ nhỏ đã phát triển nuôi theo mô hình VAC, còn các mặt nước lớn như các dòng sông, các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các vùng đất ngập nước, ruộng trũng chưa được sử dụng nhiều. Một số nơi đã bắt đầu khai thác những mặt nước này rất hiệu quả như hồ Trị An, vùng sông Tiền và sông Hậu của An Giang để nuôi những loài cá có giá trị cao cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như cá basa, bống tượng.... Điều đó cho thấy, tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong các thuỷ vực nước ngọt còn rất lớn.

Nằm trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có nhiều loài thủy sản quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Mặt khác, lợi thế địa lý gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn, có khả năng giao lưu hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy, đường không rất thuận lợi đã tạo cho ngành thủy sản Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển.

Tuy nhiên, đặc điểm nhiều gió bão (hằng năm có tới 4 - 5 cơn bão), lũ, lụt, gió mùa, thời tiết thay đổi thất thường đã gây ra những khó khăn, thiệt hại không nhỏ cho phát triển nuôi trồng thủy sản vùng cửa sông, ven biển và khai thác hải sản. Nguồn lợi thủy sản tuy đa dạng, nhưng trữ lượng mỗi loài không nhiều, không tập trung thành những quần đàn lớn. Đây cũng là một yếu tố không thuận lợi cho hoạt động khai thác và chế biến thủy sản. Vấn đề bồi, lắng, xói lở vùng cửa sông, ven biển xảy ra thất thường cũng gây ra những khó khăn cho công tác xây dựng các cơ sở hạ tầng nghề cá.

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang