Số lượt truy cập:   574282
Các quy định pháp lý và các cơ q

THÔNG TIN CHUNG

A.4.     Kinh tế

Trong nửa cuối thế kỷ 20, Việt Nam là một quốc gia nghèo, đông dân, bị tàn phá bởi những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm kéo dài nhiều năm. Nền kinh tế vào đầu những năm 1980 rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng do hậu quả chiến tranh, do mất nguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

Trước bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.

A.4.1. Tốc độ tăng trưởng GDP

Biểu 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

 

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước từ 1986-2005

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm

1986-1990

1991-1995

1996-2000

2001-2005

Trong nước

4,4

8,2

7,0

7,5

Cụ thể:

 

 

 

 

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản

 

4,1

4,42

3,8

- Công nghiệp và xây dựng

 

12,0

10,6

10,2

- Dịch vụ

 

8,6

5,69

7,0

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

Sau 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.

+ Giai đoạn 1986-1990, GDP tăng 4,4%/năm, phục hồi sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất.

+ Giai đoạn 1991-1995, khắc phục tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và tương đối toàn diện.Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm trong thời kỳ 1991-1995 tăng 8,2%.

+Giai đoạn 1996-2000, đây là thời kỳ quan trọng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn này, Việt Nam đã gặp phải một số khó khăn bên ngoài mà điển hình nhất là cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế khu vực (giữa năm 1997 đến năm 1999); Và khó khăn bên trong là thiên tai nghiêm trọng liên tiếp gây ra những tác động tiêu cực, đặt nền kinh tế đất nước trước những thử thách quyết liệt. Mặc dù vậy tổng sẩn phẩm trong nước vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng khoảng GDP 6%/năm.

+Giai đoạn 2001-2005, kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7,5%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%. Qui mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 838 nghìn tỷ đồng, gấp đôi so với năm 1995. GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (khoảng 640 USD). 

Bảng 3: Các mức tăng trưởng bình quân GDP (%/năm) từ 2001-2005

Giai đoạn

Mức tăng trưởng bình quân GDP (%/năm)

1986-1990

4,4

1991-1995

8,2

1996-2000

7,0

2001

6,9

2002

7,0

2003

7,3

2004

7,7

2005

8,4

                                                            (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

A.4.2. Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu các ngành kinh tế đã từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng làm tăng hiệu quả và chất lượng phát triển.  

Bảng 4: Cơ cấu các ngành kinh tế trong giai đoạn từ 1986-2005 

Năm

Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP (%)

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP (%)

Tỷ trọng dịch vụ trong GDP (%)

1986

38,1

28,9

33

1990

38,7

22,7

38,6

2000

27,2

28,8

44,0

2005

20,9

41

38,01

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)           

Cơ cấu ngành

Trong từng nhóm ngành, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu.

a)       Công nghiệp

Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có chuyển biến tích cực. Sản xuất công nghiệp đa dạng cả về quy mô sản xuất, trình độ công nghệ, chủng loại và chất lượng sản phẩm. Một số ngành cơ khí, đóng tàu đã đạt trình độ khá. Chi phí sản xuất của một số sản phẩm và ngành công nghiệp đã có chiều hướng giảm dần, chất lượng và sức cạnh tranh đã được nâng lên. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, chế tác chưa cao (tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến, chế tác tiếp tục tăng lên, giá trị sản xuất của ngành từ 83% năm 2004 tăng lên 84,7% năm 2005; trong khi tỷ trọng của ngành khai thác mỏ giảm từ 6,2% năm 2004 xuống còn 5,6 năm 2005). Những ngành có hàm lượng công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin phát triển còn chậm, tỷ trọng trong cơ cấu công nghiệp còn ở mức thấp so với khu vực; số lượng cơ sở công  nghiệp tăng nhưng quy mô phổ biến là nhỏ; trình độ kỹ thuật công nghệ trong các doanh nghiệp còn lạc hậu; còn phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước còn thấp, nên giá trị quốc gia của từng sản phẩm chưa cao.

b)       Nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn

Trong nội bộ các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể. Tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm từ 76,5% năm 2004 xuống còn 75,71% năm 2005. Trong khi đó, tỷ trọng của ngành thủy sản vẫn có xu thế tăng lên, từ 19,9% năm 2004 lên 20,85% năm 2005.

Hoạt động sản xuất của các ngành tiếp tục phát triển nhờ áp dụng các loại giống có năng suất cao, tăng hiệu quả sử dụng đất (như chuyển đổi diện tích trồng lúa năng suất thấp, không ổn định sang những mục tiêu sử dụng khác, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, hiệu quả sản xuất đã tăng lên đáng kể.

c)       Dịch vụ

Cơ cấu các ngành dịch vụ bắt đầu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ có chất lượng cao, đa dạng hoá các loại hình phục vụ… Thương mại nội địa được sắp xếp lại thuận lợi cho buôn bán, mở rộng mạng lưới trao đổi, mua bán hàng hoá với thị trường nông thôn, miền núi, đô thị.  

Biểu 2: Cơ cấu kinh tế 

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

 Cơ cấu vùng

Cơ cấu vùng chuyển dịch theo hướng phát huy các lợi thế so sánh. Ba vùng kinh tế trọng điểm  bước đầu phát huy được tiềm năng, lợi thế của mình, nhờ đó đã tăng trưởng khá nhanh và có những đóng góp đáng kể. Một số kết quả đật được của các vùng kinh tế trọng điểm năm 2005 như sau:  

Thành tựu đạt được

Mức đóng góp

GDP

63,16%

Giá trị gia tăng công nghiệp

70%

Kim ngạch xuất khẩu

70%

Thu ngân sách nhà nước

73%

 Cơ cấu thành phần kinh tế 

Cơ cấu các thành phần kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực doanh nghiệp Nhà nước, phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế dân doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế hợp tác và các thành phần khác.

+ Kinh tế nhà nước tiếp tục được đổi mới, sắp xếp, cổ phần hoá và đa dạng các hình thức sở hữu; các doanh nghiệp nhà nước sắp xếp lại đều hoạt động có hiệu quả hơn.

+ Kinh tế tập thể tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng.

+ Kinh tế cá thể, tư nhân, phát triển khá, nhất là trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ.

+ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục có bước phát triển thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

A.4.3. Xuất nhập khẩu

- Kim ngạch xuất khẩu

Trong thời kì đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức khoảng nửa tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 26 tỷ USD năm 2004 và 32,23 tỉ USD năm 2005. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người tăng từ 36,3% USD năm 1990 lên 166 USD năm 2000 và khoảng 390 USD năm 2005. 

Biểu 3 : Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 1986-2005

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

 Bảng 5: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 1991-2005 

Giai đoạn

Tổng kim ngạch xuất khẩu (%)

1991-1995

17,8

1996-2000

21,0

2001-2005

17,5

 (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

            - Sản phẩm xuất khẩu

Đến nay hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của trên 160 nước ở khắp các châu lục, đặc biệt là thị trường các nước EU, Hoa Kỳ và Canada. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ. Trong giai đoạn 1991-1995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến năm 2005, các  mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và gạo. Trong đó, gạo, cà phê, hạt điều chiếm vị trí thứ 2, hạt tiêu đứng đầu thế giới.

Bảng 6: Các mặt hàng xuất khẩu chính năm 2005

Các mặt hàng xuất khẩu chính năm 2005

% tổng kim ngạch

Dầu thô

23

Hàng dệt may

15

Giày dép

9,3

Thuỷ sản

8,5

Điện tử máy tính

4,5

Gạo

4,3

Cao su

2,4

Cà phê

2,2

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

Bảng 7: Các mặt hàng nhập khẩu chính năm 2005

Các mặt hàng nhập khẩu chính năm 2005

% tổng kim ngạch

Máy móc, thiết bị

14,2

Xăng dầu

13,5

Thép

8

Vải

6,5

Nguyên phụ liệu dệt may da

6,3

Điện tử máy tính

4,6

Phân bón

1,8

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

 

Cơ cấu các mặt hàng có xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản. Dù có sự tiến bộ như vậy, nhưng các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi một sự nỗ lực lớn hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.

A.4.4. Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Hoạt động kinh tế đối ngoại đã có bước phát triển mạnh mẽ, đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, đa phương hoá và đa dạng hoá các mối quan hệ với các nước, các tổ chức tài chính quốc tế. Những kết quả đạt được của Việt Nam trong hoạt động hội nhập của minh như sau: 

Năm

Những điểm mốc quan trọng của Việt Nam

1992

Ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với EU

1995

Gia nhập tổ chức ASEAN

1998

Tham gia APEC

2001

Ký hiệp định thương mại song phương Việt–Mỹ

2003

Tham gia khu vực mậu dịch tự do AFTA của ASEAN

07/11/2006

Trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO

 Chính sách “đa dạng hóa, đa phương hoá” quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới và khu vực. Nếu như trước năm 1990, Việt Nam mới có quan hệ thương mại với 40 nước, thì ngày nay nhờ thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, làm bạn, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 169 nước trên thế giới, ký kết các hiệp định thương mại đa phương và song phương với trên 80 quốc gia, thực hiện chế độ tối huệ quốc với trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước và khu vực có nguồn vốn lớn, công nghệ cao và thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU và các nền kinh tế mới công nghiệp hóa ở Đông Á.

A.4.5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quan hệ hợp tác, đầu tư nước ngoài trước đổi mới, chủ yếu là thông qua hình thức vay dài hạn theo Hiệp định chính phủ, đã chuyển hẳn sang khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp dưới nhiều hình thức, đồng thời tiếp tục tranh thủ tài trợ phát triển của các nước và các tổ chức tài chính quốc tế.

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12 năm 1987 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam. Thời kỳ 1996-2000, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp mới và bổ sung đã lên đến  24,6 tỷ USD, tăng 30% so với 8 năm trước đó. Vốn đã đưa vào thực hiện khoảng 10 tỷ USD (theo giá 1995), gấp 1,8 lần.  

Biểu 4: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)

Trong bối cảnh dòng luân chuyển vốn bị hạn chế và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thu hút vốn, nhưng do môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện thông qua việc sửa đổi bổ sung các chính sách vào năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Trong 5 năm 2001-2005, tổng vốn đăng ký vẫn đạt 20 tỷ USD, vượt 39% mục tiêu đề ra (15 tỷ USD) và tổng vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ uSD vượt 30% mục tiêu.

Từ tháng 10 năm 1993 quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam với cộng đồng tài trợ quốc tế đã được nối lại. Từ đó đến nay, hàng năm, nguồn vốn cam kết tài trợ của các nước cho ta đều tăng đáng kể, việc giải ngân nguồn vốn ODA ngày càng tốt hơn. Ba năm đầu nối lại nguồn viện trợ ODA (1993-1995), cộng đồng tài trợ quốc tế đã cam kết dành cho Việt Nam số vốn ODA khoảng 6,0 tỷ USD; nguồn vốn ODA đã thực hiện trong cùng thời kỳ đó vào khoảng 1,73 tỷ USD, chiếm 18,8% tổng số vốn các nước đã cam kết và 36,2% số vốn đã đăng ký.  Trong 5 năm 1996-2000, cộng đồng tài trợ quốc tế tiếp tục dành Việt Nam số vốn ODA cam kết cho Việt Nam là 11,64 tỷ USD và đã được đưa vào thực hiện khoảng 6,1 tỷ USD. Đặc biệt trong thời kỳ 2001-2005, do khó khăn kinh tế toàn cầu, nguồn ODA của thế giới có xu hướng giảm đáng kể, nhưng các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam 16,7 tỷ USD; giải ngân trong thời kỳ khoảng 7,9 tỷ USD. 

Biểu 5 : Nguồn vốn ODA đầu tư cho Việt Nam từ 1986-2005

                                   

(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005) 

Bằng việc cho ra đời Luật đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 (cùng có hiệu lực từ 1/7/2006) Chính phủ Việt Nam đã tạo ra bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến để tạo thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài như được quyền đầu tư kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm, thay vì chỉ được làm những việc cơ quan Nhà nước cho phép. Nguyên tắc này được áp dụng cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước từ năm 2000, nay được áp dụng chung cho khu vực nước ngoài. 

Ngoài ra, việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị… đã tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn. 

Những biện pháp cải cách trên đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng góp phần khôi phục và tăng nhanh nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam trong năm 2005. FDI tăng nhanh trở lại còn do các nguyên nhân quan trọng khác như sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao.

Kết quả, Việt Nam đã thu hút được một lượng FDI ngày càng lớn: hầu như từ con số không vào năm 1986, đã tăng lên tới 3,2 tỷ USD năm 1997, sau đó do bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã giảm xuống trong các năm 1998-2000 (có năm chỉ thu hút được 1,58 tỷ USD như năm 1999). Những năm gần đây, FDI vào Việt Nam đã được phục hồi và có xu hướng tăng trở lại, từ 2,6 tỷ USD năm 2001 đã tăng lên 5,8 tỷ USD năm 2005. FDI tăng lên không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động Việt Nam.

Gây đây nhất, việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO và sau khi tổ chức thành công sự kiện quốc tế lớn nhất từ trước đến nay- Hội nghị thượng đỉnh Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 14 (Apec 14)- với sự hiện diện của 21 thành viên tham gia diễn đàn kinh tế lớn nhất cùng các cường quốc hàng đầu thế giới và sự có mặt của hàng nghìn nhà doanh nghiệp đại diện cho các tập đoàn công nghiệp xuyên quốc gia lớn nhất, một làn sóng đầu tư mới đang hứa hẹn sẽ đến Việt Nam với quy mô chưa từng có từ trước đến nay. Cũng trong thời gian này, Việt Nam đã chuẩn bị đón nhận những thách thức và cơ hội mới trong tương lại bằng việc thông qua một số luật sửa đổi như đầu tư, bảo vệ sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp,….. Việt Nam sẽ là bến đỗ đầy hứa hẹn cho các nguồn đầu tư nước ngoài, tiếp thêm sức mạnh cho nền kinh tế có những bước nhảy vọt.

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang