Số lượt truy cập:   572877
Các quy định pháp lý và các cơ q

THÔNG TIN CHUNG

A.3. Hệ thống hành chính

Tổ chức Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm 4 cấp là trung ương, tỉnh, huyện và xã.

- Cấp Trung ương có Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

+ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do nhân dân trực tiếp bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

+ Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu. Trong thành phần chính phủ có các bộ và cơ quan ngang Bộ. Bộ Thủy sản là một thành viên của chính phủ.

- Chính quyền địa phương (gồm ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), có Hội đồng nhân dân do nhân dân bầu ra trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

- Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp hợp thành hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Sơ đồ phân cấp quản lý hệ thống hành chính của Việt Nam

            

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đơn vị hành chính

Việt Nam có 64 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương bao gồm 59 tỉnh (An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bến Tre, Bình Dương, Bình Định, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cao Bằng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hậu Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên-Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái )và 5 thành phố trực thuộc trung ương (gồm Thành phố Cần Thơ,  Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hà Nội, Thành phố Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh). Hà Nội (Phụ lục 1) là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 2) là trung tâm kinh tế phía Nam, là thành phố lớn ở Việt Nam.

Việt Nam được chia thành 671 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã) và khoảng 11.000 đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn)

--------------------------------------------------------------

Phụ lục 1: THỦ ĐÔ HÀ NỘI

       Năm 1010, Hà Nội được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô và đặt tên là Thăng Long với lòng mong muốn kinh thành ngày càng phồn thịnh như Rồng bay lên. Thăng Long xưa và Hà Nội nay là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá lớn  và là đầu mối giao thông quan trọng của nước Việt Nam.

1.1. Vị trí địa lý

        • Vĩ độ bắc: 20o53' đến 21o23'

        • Kinh độ đông: 105o44' đến 106o02'

        • Giáp với năm tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía nam và phía tây.

DIỆN TÍCH - DÂN SỐ - ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH HÀ NỘI TÍNH ĐẾN NĂM 2005

(Theo Tổng Cục Thống kê)

 Diện tích *

(km2)

Dân số

(1000 ng)

Mật độ dân số

(ng/km2)

Đơn vị hành chính

 

 

 

Quận

Huyện

Phường

Thị trấn

921,0

3145,3

3415

9

5

122

99

8

 

(*) số liệu năm 2003

Hiện nay, Hà Nội gồm chín quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai và năm huyện ngoại thành: Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm.

Số dân của thành phố phân bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính. Theo thống kê năm 2005 dân số Hà Nội có 3.145.300 người, trong đó dân số nội thành chiếm 53%, dân số ngoại thành chiếm 47%. Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2881 người/km2 (mật độ trung bình ở nội thành 19163 người/km2, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km2, ở ngoại thành 1721 người/km2). Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là thành phố có mật độ dân số cao nhất cả nước.    

1.2 Địa hình

Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bồi cao và các bậc thềm. Xen giữa các bãi bồi đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của các lòng sông cổ) . 

Phần lớn diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biển. Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam  của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến hơn 400m, cao nhất là đỉnh Chân Chim (462m).

Sông ngòi

Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông, trong đó sông Hồng là lớn nhất. Sông Hồng bắt đầu từ dãy Ngụy Sơn (Trung Quốc), ở độ cao 1776m, chảy theo hướng tây - bắc - đông - nam vào Việt Nam từ Lào Cai và chảy ra vịnh Bắc Bộ. Sông Hồng chảy qua Hà Nội dài khoảng 30 km.

Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất. Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm. Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ.

Ngoài sông Hồng, trong địa phận Hà Nội còn có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ và sông Cà Lồ. 

1.3. Khí hậu

Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít.

       • Trung bình hàng năm, nhiệt độ không khí 23,6oC, độ ẩm 79%, lượng mưa 1245 mm

      • Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Sự luân chuyển của các mùa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng.

       • Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè: nóng và thỉnh thoảng có mưa rào.

       • Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu, không khí mát lạnh, thời tiết khô ráo.

       • Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là mùa đông, thời tiết lạnh, khô ráo.

       • Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân, tiết trời ấm áp.

  1.4 Thực vật và động vật

    Các loại thực vật tự nhiên chỉ còn dạng thứ sinh, tập trung trong huyện Sóc Sơn. Diện tích trồng rừng đang được mở rộng để phủ xanh đất trống, đồi trọc khôi phục thảm thực vật, bảo vệ môi sinh. Do có rừng, gần đây đã thấy xuất hiện trở lại nhiều loài chim ăn ngũ cốc, các loài gậm nhấm và thú rừng (lợn rừng, chồn, sóc, trăn, rắn...) vốn trước kia có rất nhiều.

    Giới động vật còn tương đối phong phú là động vật dưới nước như cá, tôm, cua, ốc, kể cả cá trong đồng và ngoài sông. Hà Nội là vùng đất trù phú, có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời, đã cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi quí, có giá trị kinh tế và nổi tiếng trong cả nước.

    Đáng chú ý là các huyện ngoại thành đã hình thành các vành đai rau xanh, thực phẩm tươi sống (thịt, cá, sữa, trứng) và hoa tươi phục vụ nhu cầu đô thị hoá ngày một cao của thủ đô Hà Nội và dành một phần để xuất khẩu. 

1.5. Kinh tế

Tổng thu ngân sách hàng năm luôn tăng. Hà Nội đóng góp 8,4% vào GDP cả nước, 8,3% giá trị kim ngạch xuất khẩu, 8,2% giá trị sản xuất công nghiệp, 9,6% tổng mức bán lẻ hàng hoá doanh thu dịch vụ tiêu dùng, 10,2% vốn đầu tư xã hội, 14,1% vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và 14,9% thu ngân sách nhà nước.

Trong giai đoạn 2000-2005, kinh tế đối ngoại của Hà Nội liên tục phát triển. Nhiều dự án hợp tác quốc tế song phưong và đa phương như đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng đô thị được triển khai và phát huy hiệu quả. Hà Nội đã thu hút được hơn 600 dự án từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ với số vốn đăng ký trên 9tỷ USD; thu hút hơn 700 triệu USD vốn ODA, tập trung vào xây dựng hạ tầng đô thị như xử lý nước thải, rác thải, nâng cấp hệ thống thoát nước đô thị. Thành phố còn tiếp nhận được hơn 60 triệu USD từ các tổ chức phi chính phủ (NGO), hỗ trợ cho các lĩnh vực công tác xã hội, chăm sóc y tế, xoá đói giảm nghèo..

Tổng kim ngạch nhập khẩu của Hà Nội bình quân đạt hơn 13 tỷ USD, trong đó xuất khẩu gần 3 tỷ USD. Hà Nội được xếp hạng cao trong những điểm du lịch hấp dẫn, an toàn ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á. Năm 2005, thành phố đã thu hơn hơn 5 triệu khách du lịch, trông đó hơn 1,1 triệu khách quốc tế. Hà Nội đã mở quan hệ giao thương với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thời gian tới, thành phố Hà Nội sẽ tiếp tục chuyển mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp, phát triển các ngành, các lĩnh vực và sản phẩm công nghệ cao. Đồng thời, phát triển công nghiệp có chọn lọc, ưu tiên phát triển các ngành tự động hoá, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tập trung phát triển các ngành và nhóm sản phẩm có lợi thế, có thương hiệu.

Phụ lục 2: Thành phố Hồ Chí Minh  

Sài Gòn cổ xưa đã được thành lập từ đầu thế kỷ XVII, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn. Ngày 2.7.1976, Quốc Hội khoá VI họp ngày 2.7.1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh.

1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở toạ độ địa lý khoảng 10 0 10 – 10 0 38 vĩ độ bắc và 106 0 22 – 106 054kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh , đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.

Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế, với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước. Cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động trên 10 triệu tấn /năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay, chỉ nằm cách trung tâm thành phố 7km.

1.2. Khí hậu

Nằm ở Nam Bộ Việt Nam, khí hậu ở thành phố Hồ Chí Minh chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,55 0C, không có mùa đông.

    DIỆN TÍCH - DÂN SỐ - ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÍNH ĐẾN NĂM 2005

(Theo Tổng Cục Thống kê)

 Diện tích *

(km2)

Dân số

(1000 ng)

Mật độ dân số

(ng/km2)

Đơn vị hành chính

 

 

 

Quận

Huyện

Phường

Thị trấn

2095,2

5891,1

2812

19

5

 

 

 

 

Thành phố Hồ Chí Minh có dân số đông nhất trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh- thành phố trực thuộc trung ương với gần 5,9 triệu người. Thành phố Hồ Chí Minh có 19 quận và 5 huyện, bao gồm quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 5, quận 6, quận 7, quận 8, quận 9, quận 10, quận 11, quận 12, quận Gò Vấp, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận Thủ Đức, quận Tân Phú, quận Bình Tân, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn, huyện Cần Giờ, huyện Củ Chi, huyện Nhà Bè.

1.3. Kinh tế

Nếu như năm 2001 tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4 % thì đến năm 2005 tăng lên 12,2%. Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước. Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm tới một phần ba tổng GDP của cả nước .

Về thương mại và dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước. Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004 (nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tăng 17%). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5%. Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 21,1%, (nếu loại trừ yếu tố biến động giá thì mức tăng là 11,4%). Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối. Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư. Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng 12,2% so với năm 2004 . Năng suất lao động của các ngành dịch vụ nói chung đạt trung bình 66,12 triệu đồng/người.năm (giá trị gia tăng), trong đó năng suất lao động của thương mại là 51,6 triệu đồng/người, (bằng 78% năng suất lao động ngành dịch vụ)

 

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang