Số lượt truy cập:   576936
Các quy định pháp lý và các cơ q

NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

 

B.3. Hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản

B.3.1. Xuất khẩu

Từ lâu, thuỷ sản đã là loại thực phẩm phổ biến, được ưa chuộng ở nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia có biển hoặc có các thuỷ vực nội địa lớn. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân cư, nhu cầu về thuỷ sản ngày càng lớn hơn để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đa dạng, từ cao cấp đến bình dân. Ngoài ra, mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm của thuỷ sản cao hơn các loại thực phẩm khác, trong khi dịch bệnh ở gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng càng làm cho nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới tăng mạnh. Tăng trưởng tiêu dùng thuỷ sản không những diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển. Cùng với xu hướng tiêu thụ này thì việc trao đổi, xuất nhập khẩu thuỷ sản giữa các quốc gia được đẩy mạnh và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó.

B.3.1.1 Diễn biến chung

Thuỷ sản không chỉ là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống dân cư mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển. Trong số các nhà xuất khẩu thuỷ sản, Việt Nam được coi là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản nhanh nhất. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ 1992 – 2003 có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 9,97%/năm. Năm 1992, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam mới là 307,7 triệu USD, nhưng 10 năm sau giá trị này đã tăng gấp 6,57 lần, đạt 2,023 tỷ USD (năm 2002). Từ năm 2001, Việt Nam đã có tên trong nhóm 10 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới. Cụ thể như sau: 

STT

Quốc gia

Sản lượng (tấn)

01

Trung Quốc

6.636.839

02

Nauy

4.132.147

03

Thái Lan

4.034.003

04

Mỹ

3.800.000

05

Đan Mạch

3.566.149

06

Canađa

3.487.477

07

Tây Ban Nha

2.600.000

08

Chilê

2.483.628

09

Hà Lan

2.451.904

10

Việt Nam

2.402.781

(theo số liệu thống kê của FAO năm 2004)

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2005 là 2,73 tỷ USD, đưa tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả kỳ kế hoạch năm năm 2001 – 2005 lên 13,61 tỷ USD, đã giúp ngành thủy sản vượt kế hoạch đặt ra và tăng 132,15% so với kỳ kế hoạch 1996 – 2000, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 13%/năm. Trong nhiều năm liền, thuỷ sản duy trì được vị trí là một trong những mặt hàng đem lại nguồn ngoại tệ lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 8 – 11% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.

Kết quả của sự tăng trưởng vượt bậc này phải kể đến sự phấn đấu không ngừng của hàng triệu ngư dân, nông dân để gia tăng sản lượng nguyên liệu nhiều hơn, tốt hơn, an toàn hơn; sự năng động của các doanh nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ, cải thiện điều kiện sản xuất, mở rộng thị trường và đa dạng hoá sản phẩm; cũng như của các cơ quan quản lý ngành thuỷ sản trong việc hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, tăng cường kiểm tra giám sát chất lượng sản phẩm. Chất lượng các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam không ngừng được nâng lên và ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới.

Ngành thuỷ sản đã đạt được nhiều tiến bộ mà thể hiện rõ nhất ở kết quả xuất khẩu, tuy nhiên công tác dự báo thị trường của ngành còn yếu, kinh nghiệm ngăn chặn và giải quyết các tranh chấp còn hạn chế. Ngoài ra, vấn đề dư lượng kháng sinh và nhiễm khuẩn do tiêm chích tạp chất và ngâm hoá chất vẫn là nỗi lo và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp. Nếu không giải quyết tốt những hạn chế trên thì khó đảm bảo sự phát triển xuất khẩu thuỷ sản một cách bền vững.

Bảng 12: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản VN qua các thời kỳ

 

1992

1996

2000

2001

2002

2003

2004

2005

KN XK (triệu USD)

308

697

1.479

1.778

2.023

2.200

2.397

2.728

% tăng so với năm trước

 

12,1

57,5

20,2

13,8

8,7

8,98

13,81

% so với tổng KNXK của Việt Nam

11,9

9,6

8,7

10,3

11.0

9,6

9,04

8,28

Biểu đồ 5: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 1997 – 2005

  (Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản)

B.3.1.2 Sản phẩm xuất khẩu

Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong thời gian hơn 2 thập kỷ qua. Năm 1986 hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dưới dạng nguyên liệu sơ chế đông lạnh, trong đó tôm chiếm tới 64%, xuất khẩu cá không đáng kể. Từ đó đến nay, mặc dù khối lượng và giá trị xuất khẩu tôm vẫn liên tục tăng nhưng tỷ trọng trong tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu đã giảm dần do các mặt hàng khác tăng nhanh hơn, đặc biệt là cá. Kết quả xuất khẩu những năm gần đây cho thấy rõ diễn biến đó. Đến năm 2003, xuất khẩu cá đã chiếm 1/3 khối lượng và 1/5 giá trị xuất khẩu. Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu 258,25 nghìn tấn cá các loại (chiếm tới 40,91% khối lượng xuất khẩu) gồm các mặt hàng cá đông lạnh, cá khô, và sản phẩm cá trị gia tăng khác, thu về 691,94 triệu USD (25,36% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản). Trong năm 2006, tỷ trọng cá xuất khẩu còn tăng cao hơn nữa (33,1% giá trị xuất khẩu thuỷ sản) và xu thế này còn tiếp diễn trong thời gian tới. Tuy nhiên, tôm đông lạnh vẫn duy trì được vị trí là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu, chiếm gần 1/2 giá trị xuất khẩu, tiếp theo là cá đông lạnh với tỷ trọng xấp xỉ 22%. Mặt hàng mực, bạch tuộc đứng vị trí thứ ba chiếm 5 – 7%, tỷ trọng hàng khô có xu hướng giảm (11,7% năm 2001 xuống còn 5,83% năm 2005).

Người tiêu dùng ngày càng hướng tới sử dụng các loại sản phẩm chất lượng cao, tiện dụng, tốn ít thời gian chế biến. Đáp ứng yêu cầu này, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đã tăng cường đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất hiện đại, sản xuất ra nhiều chủng loại mặt hàng đa dạng, tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng cũng được nâng lên, điều này đã đem lại lợi ích rõ rệt. Để thể hiện rõ tình hình xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản, xin đề cập chi tiết hơn đến các nhóm mặt hàng chính của Việt Nam là tôm, cá và nhuyễn thể 

Bảng 13: Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 

 

2001

2002

2003

2004

2005

Tên hàng

Số lượng (tấn)

Kim ngạch

Số lượng (tấn)

Kim ngạch

Số lượng (tấn)

Kim ngạch

Số lượng (tấn)

Kim ngạch

Số lượng (tấn)

Kim ngạch

Giá trị (1000 USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000 USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000 USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000 USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000 USD)

Tỷ trọng (%)

Mực, Bạch tuộc đông lạnh

41653

115892

6,52

54879

140221

6,93

44813

112178

5,10

62415

167621

6,98

62535

184319

6,76

Cá đông lạnh

86832

275490

15,50

104782

352134

17,41

116757

372393

16,93

102537

288246

12,01

94542

292553

10,72

Cá tra, basa

1737

5051

0,28

27987

86975

4,30

32876

81071

3,69

83844

231536

9,64

141011

328886

12,06

Các mặt hàng khác

123732

404011

22,73

115169

324112

16,02

141942

498104

22,65

108802

322502

13,43

132750

404581

14,83

Hàng khô

34281

196825

11,07

40289

154985

7,66

20866

77593

3,53

32606

122838

5,12

44857

158956

5,83

Tôm đông lạnh

87256

780218

43,89

115552

964394

47,68

124813

1058238

48,11

141122

1268039

52,82

155567

1358728

49,81

Tổng số

375491

1777486

100,00

458658

2022821

100,00

482067

2199577

100,00

531326

2400781

100,00

631261

2728023

100,00

 

Biểu đồ 6: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo nhóm mặt hàng

Mặc dù cơ cấu mặt hàng thủy sản buôn bán trên thị trường thế giới có những thay đổi đáng kể, nhưng tôm vẫn là mặt hàng chiếm ưu thế. Sự gia tăng giá trị tôm xuất khẩu trong thập kỷ 90 chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng, trong khi sản lượng lại có chiều hướng giảm sút do dịch bệnh, cũng như ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tại các nước sản xuất tôm chính như Thái Lan, Inđônêxia. Trong hai năm 2000 – 2001, xuất khẩu tôm không những giảm về khối lượng, mà giá tôm trên thị trường thế giới cũng giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tại các thị trường lớn như Mỹ, Nhật. Tuy nhiên, giá tôm trên thị trường thế giới đã được phục hồi vào cuối năm 2001 do giá tôm tại Mỹ và Nhật Bản bắt đầu nhích lên đẩy giá tôm trên thị trường thế giới tăng cao. Mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam cũng có diễn biến tương tự, tôm là mặt hàng có tỷ trọng cao nhất chiếm từ 43 – 52% về giá trị nhưng về khối lượng chỉ chiếm 23 – 26%, chứng tỏ tôm là mặt hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.

Trong những năm 1980 và 1990, phần lớn mặt hàng tôm sú của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản nhưng với giá trị thấp. Nhận thức được tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng đối với hiệu quả xuất khẩu, kể từ giữa những năm 1990, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đã tích cực trang bị những dây chuyền công nghệ hiện đại, dần đáp ứng được đòi hỏi của các thị trường tiêu dùng cao cấp như EU, Mỹ, Nhật. Việt Nam từ chỗ không có tên tuổi trong danh sách các nước xuất khẩu tôm trên thế giới thì đến năm 2003 tôm Việt Nam đã có mặt tại trên 60 nước và vùng lãnh thổ. Thị trường chính tiêu thụ tôm của Việt Nam vẫn là Nhật Bản và Mỹ, hai thị trường lớn này tiêu thụ tới 70 – 80% khối lượng tôm xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, Mỹ tuy là thị trường khá mới của Việt Nam nhưng lại có giá trị và sản lượng xuất khẩu tôm tăng nhanh. Năm 2000 sản phẩm tôm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ là 14.790 tấn với giá trị 217 triệu USD, năm 2001 là 29.315 tấn tăng 98,2% so với năm trước đạt giá trị 339 triệu USD, tăng 55,9%. Năm 2003, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu thuỷ sản đứng thứ 4 vào thị trường Mỹ, trong đó xuất khẩu tôm đứng ở vị trí thứ hai với giá trị 513,83 triệu USD và khối lượng 52,3 ngàn tấn. Vụ kiện chống bán phá giá tôm đã thu hẹp thị phần của Việt Nam tại thị trường Mỹ, nên năm 2004 xuất khẩu tôm của Việt Nam vào Mỹ giảm cả khối lượng và giá trị so với năm 2003, đạt 37 ngàn tấn (-29,12%) và 397,7 triệu USD (-22,59%). Năm 2005, xuất khẩu tôm sang thị trường này có tăng trưởng nhưng vẫn chưa bằng mức của năm 2003. Sau vụ kiện chống bán phá giá tôm, các nhà xuất khẩu tôm của Việt Nam đã nhanh chóng chuyển hướng sang các thị trường khác.

Tỷ trọng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật Bản đã giảm từ 60% vào những năm 1980 xuống còn xấp xỉ 40% năm 2005, nhưng khối lượng và giá trị xuất khẩu mặt hàng này vào Nhật Bản vẫn tăng trưởng liên tục. Chủng loại mặt hàng tôm của Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản đã được đa dạng hoá, phần nào đã đáp ứng thị hiếu tiêu dùng các sản phẩm cao cấp nên giá trị xuất khẩu tôm tăng khá. Trong 3 nước dẫn đầu xuất khẩu tôm vào Nhật Bản là Ấn Độ, Inđônêxia và Việt Nam thì Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cả. Nếu năm 1997 xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật là 37.165 tấn với giá trị 225,76 triệu USD, thì năm 2005 đã là 65.351 tấn đạt giá trị 542,69 triệu USD, tăng 75,84% về khối lượng và 140,38% về giá trị. Hiện nay, sản phẩm tôm của Việt Nam đang chiếm ưu thế trước các sản phẩm cùng loại của Inđônêxia tại thị trường Nhật, vượt qua Inđônêxia để trở thành nhà cung cấp tôm lớn nhất trên thị trường này. Xuất khẩu tôm sang EU có chiều hướng phát triển khả quan. Trước năm 2005, giá trị tôm xuất khẩu vào EU chỉ xấp xỉ 5% tổng giá trị tôm xuất khẩu. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vào EU đã đạt 115,8 triệu USD tăng 1,97 lần so với năm 2004 và chiếm 8,52% giá trị xuất khẩu tôm. Về cơ bản, khối lượng và giá trị tôm của Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường chính đều tăng lên, tuy nhiên khối lượng xuất khẩu vẫn tăng nhanh hơn giá trị, chứng tỏ hiệu quả chưa lên nhiều.

Trong số các mặt hàng tôm thì tôm đông lạnh chiếm phần lớn, tôm khô chiếm tỷ lệ rất thấp, vì vậy, đôi khi những số liệu về tôm đông lạnh được coi là đại diện của xuất khẩu tôm Việt Nam. Mặc dù Việt Nam còn xuất khẩu một số sản phẩm tôm giá trị gia tăng khác, nhưng mặt hàng tôm đông lạnh vẫn có sự tăng trưởng liên tục, và tốc độ tăng cũng cao hơn hẳn mức tăng của các sản phẩm thuỷ sản còn lại. Phần lớn tôm đông lạnh xuất khẩu đều có nguồn gốc từ nuôi có kích cỡ lớn và chất lượng đồng đều. Tôm khai thác do không có được những ưu điểm trên nên chủ yếu được dùng để chế biến tôm khô và các sản phẩm giá trị gia tăng khác. Điều này cho thấy sự đóng góp to lớn của ngành nuôi tôm Việt Nam vào xuất khẩu thuỷ sản.

Xuất khẩu tôm của Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng đều đặn trong 10 năm trở lại đây, tuy vậy hoạt động này vẫn còn gặp không ít khó khăn trên thị trường. Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa có thương hiệu riêng cho các sản phẩm của mình và chủ yếu được tiêu thụ dưới nhãn hiệu của các nhà nhập khẩu, hay thương hiệu của hệ thống phân phối siêu thị ở nước ngoài. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá xuất khẩu của Việt Nam trong khi các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam đã quảng bá được thương hiệu của mình. Ngoài ra, cơ cấu giá thành bất hợp lý, chi phí nguyên liệu đầu vào cao, chiếm khoảng 70% tổng chi phí. Trong khi đó chi phí vận tải, giao dịch, quảng cáo chỉ chiếm khoảng 1%, rõ ràng đã hạn chế việc củng cố hình ảnh của sản phẩm tôm Việt Nam trên thị trường thế giới. Một vấn đề nữa gây cản trở đến xuất khẩu và làm xấu đi phần nào cảm tình của khách hàng đối với sản phẩm tôm Việt Nam - đó là chất lượng và vệ sinh an toàn. Việc các cơ quan thẩm quyền của Nhật Bản vào cuối năm 2006 đưa ra yêu cầu tăng cường kiểm tra các sản phẩm nhuyễn thể và tôm là biểu hiện rõ ràng về vấn đề này. Đây có thể là một nguy cơ đối với xuất khẩu tôm nói riêng, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam nói chung, nếu không được ngăn chặn, chỉnh đốn kịp thời.

Bảng 14: Tỷ trọng giữa khối lượng và giá trị XK sản phẩm tôm

 

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

 

KL

(Tấn)

GT (1000USD)

KL

(Tấn)

GT

 (1000USD)

KL

(Tấn)

GT    (1000USD)

KL

(Tấn)

GT (1000USD)

KL

(Tấn)

GT

(1000USD)

KL

(Tấn)

GT (1000USD)

TS XK

291923

1478610

375491

1777486

458658

2022821

482067

2199577

531326

2400781

631261

2728023

Tôm XK

67421

657303

87777

782586

115855

965792

124897

1058579

142207

1272331

156457

1362041

Tỷ trọng

23,10

44,45

23,38

44,03

25,26

47,74

25,91

48,13

26,76

53,00

24,78

49,93

Trong đó

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôm ĐL

66704

654215

87152

777820

114580

949418

124780

1057863

141122

1268039

155442

1356883

Tôm hùm

80

543

105

2397

972

14975

33

375

 

 

125

1845

Tôm khô

637

2545

521

2368

303

1399

85

341

1085

4293

889

3313

 

Ba biểu đồ sau đây cho thấy vị trí cao của tôm đông lạnh trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Đặc biệt, năm 2003, tôm đông lạnh hầu như chiếm toàn bộ giá trị xuất khẩu tôm các loại (1.057 triệu USD trong số 1.058 triệuUSD).

Bảng 15: 20 Thị trường xuất khẩu tôm chính của Việt Nam

 

 

2000

2004

2005

TT

Thị trường

Tấn

1000 USD

Tấn

1000 USD

Tấn

1000 USD

1

Nhật Bản

30.756

291.035

62.451

521.428

65.399

543.064

2

Mỹ

14.464

215.377

37.061

397.716

41.695

441.932

3

Ỗxtrâylia

956

9.493

5.783

46.679

7.624

58.004

4

Đài Loan

1.363

11.640

6.358

42.149

6.762

50.763

5

Canađa

1.378

16.564

4.029

40.285

4.672

45.104

6

Bỉ

2.808

14.635

2.193

17.357

3.289

24.888

7

Anh

1.725

9.332

1.995

16.715

3.056

23.785

8

Đức

1.159

8.622

1.578

11.905

3.170

23.734

9

Hồng Kông

3.201

23.191

2.078

14.593

2.826

20.097

10

   Hàn Quốc

980

4.080

2.540

15.612

3.146

20.070

11

Italia

697

3.301

797

3.412

2.941

14.529

12

Thụy Sĩ

338

4.668

1.198

11.400

1.456

13.896

13

Pháp

743

1.715

569

3.386

1.600

13.281

14

Malaixia

95

1.174

2.494

26.923

1.144

11.889

15

Singapo

529

5.126

4.651

51.472

1.198

10.093

16

Trung Quốc

171

832

695

5.448

1.443

9.625

17

Thái Lan

513

4.449

639

4.632

799

5.532

18

Niu Dilân

4.025

23.830

766

5.853

349

2.426

 

Thị trường khác

800

5.148

3.244

31.071

3.887

29.329

 

Tổng cộng

66.704

654.215

141.122

1.268.038

156.457

1.362.041

 

Sản phẩm cá

Trong những năm gần đây, xuất khẩu các sản phẩm cá của Việt Nam tăng lên nhanh chóng do tình hình kinh tế thế giới có biến động, những nước nhập khẩu thuỷ sản lớn như Mỹ, Nhật Bản gặp khó khăn về kinh tế, thị hiếu tiêu dùng có thay đổi, chuyển sang tiêu thụ những sản phẩm kém xa xỉ, giá trung bình thấp tức là chuyển một phần tiêu thụ từ tôm sang cá. Mặt khác do các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất các mặt hàng cá theo hướng thuận tiện cho người sử dụng, chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm từ nguyên liệu đến chế biến nên đã tận dụng được nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến xuất khẩu. Năm 2001 Việt Nam xuất khẩu 104,7 ngàn tấn cá, đạt 280,5 triệu USD, đến năm 2005 tăng lên 235,6 ngàn tấn, đạt 621,4 triệu USD, gấp hơn 2 lần so với năm 2001. Trong các mặt hàng cá có thể điểm một số mặt hàng quan trọng sau:

Mặt hàng cá tra – basa: Vào năm 1997, khối lượng xuất khẩu cá tra – basa của Việt Nam chưa đáng kể, chỉ vài trăm tấn với giá trị hơn 1,6 triệu USD. Năm 1998, xuất khẩu đã tăng vọt lên 2.200 nghìn tấn, đạt giá trị hơn 9 triệu USD. Tuy nhiên xuất khẩu mặt hàng này có xu hướng giảm trong 3 năm liền (1999 – 2001). Đến năm 2002, xuất khẩu lại tăng mạnh đạt gần 28.000 tấn, trị giá gần 87 triệu USD, gấp 17,22 lần so với năm 2001. Việc xuất khẩu mặt hàng này tập trung chủ yếu vào thị trường Mỹ (14.797 tấn với giá trị 35,48 triệu USD) chiếm tới 61,64% về khối lượng và 63,04% về giá trị năm 2002, nên Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn do biến động của thị trường và các động thái bảo hộ thương mại của Mỹ (như kiện chống bán phá giá, hàng rào ATVSTS...). Sau vụ kiện bán phá giá cá tra, basa của các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa đã tích cực mở rộng giới thiệu sản phẩm này ở nhiều thị trường khác nhất là các nước EU và đã gặt hái được thành công rực rỡ. Do đó sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ đã giảm. Sau năm 2003, xuất khẩu mặt hàng này đã bước sang một trang mới, giá trị xuất khẩu năm 2004 đạt 231,5 triệu USD, gấp 2,86 lần năm 2003. Cá tra, basa của Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 40 thị trường, trong đó các thị trường châu Âu có sự tăng trưởng vượt bậc. Năm 2005, giá trị xuất khẩu cá tra, basa vào Tây Ban Nha là 34,4 triệu USD, gấp 13,9 lần so với năm 2003, trở thành nước nhập khẩu cá tra, basa của Việt Nam đứng thứ hai sau Mỹ (35,5 triệu USD), tiếp theo là Đức với 29,1 triệu USD. Các thị trường châu Á, châu Đại dương, châu Mỹ cũng được mở rộng và tăng trưởng liên tục. Tỷ trọng mặt hàng này trong giá trị xuất khẩu thuỷ sản ngày càng tăng từ 3,69% năm 2003 lên 12,06% năm 2005 và năm 2006 có thể đạt hơn 660 triệu USD chiếm tới trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản với hơn 65 thị trường tiêu thụ. Những số liệu thống kê về xuất khẩu cá tra, basa cho thấy sự cố gắng không mệt mỏi của các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này sau những va vấp trên thị trường Mỹ.

Mặt hàng cá tra, basa của Việt Nam phát triển mạnh hơn nhiều so với trước khi có vụ kiện tại Mỹ. Chỉ hai tháng sau khi vụ kiện kết thúc các doanh nghiệp Việt Nam đã phục hồi hoàn toàn sản lượng sản xuất. Nhiều doanh nghiệp đã tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất do có nhiều nỗ lực đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng thị trường. Người tiêu dùng toàn thế giới đã biết đến thương hiệu cá tra, basa của Việt Nam, trong đó châu Âu đã trở thành thị trường tiêu thụ chính của sản phẩm này. Sự tăng trưởng của sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cá tra, basa có thể xem là một “hiện tượng” của sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam năm 2006.

Biểu đồ 7: Xuất khẩu cá ba sa và cá tra của Việt Nam 1997-2005

Bảng 16: Xuất khẩu cá ba sa- cá tra của Việt Nam (1997-2005)

 

 

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

Khối lượng (Tấn)

425

2.263

1.692

1.129

1.737

2.7987

32.876

83.843

141.010

Giá trị (1000 USD)

1.657

9.268

6.656

3.803

5.051

86.975

81.071

231.536

328.886

(Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản) 

Biểu đồ 8: Thị phần xuất khẩu cá tra và cá ba sa 

Bảng 17: Các thị trường xuất khẩu cá tra, ba sa quan trọng của Việt Nam

(Đơn vị: 1000USD)

Thị trường

2001

2002

2003

2004

2005

Mỹ

3.912

54.828

23.956

43.871

35.477

Hồng Kông

350

9.539

14.247

41.022

28.661

Đức

161

4.171

6.540

22.610

29.084

Singapo

360

4.667

5.450

13.822

16.658

 Úc

37

3.237

6.516

20.798

25.936

Bỉ

-

2.416

4.897

12.824

24.644

Tây Ban Nha

-

355

2.476

21.962

34.412

Canada

58

1.383

2.448

8.659

12.684

Mê-xi-cô

-

144

1.479

9.582

16.677

Thái Lan

-

226

1.899

4.034

11.683

Malaixia

32

739

1.271

3.787

9.273

Nhật Bản

41

1.896

1.412

2.963

1.578

Thụy Sĩ

-

919

1.300

1.773

2.870

Trung Quốc

33

93

928

3.841

3.821

Ba Lan

-

104

384

1.612

12.097

Niu Dilân

39

658

1.624

2.470

-

Hàn Quốc

29

93

432

569

378

Các thị trường khác

-

1.509

3.810

15.336

62.954

 Tổng số

5.051

86.975

81.071

231.536

328.886

Cá ngừ: Có hai nhóm cá ngừ phân bố ở vùng biển Việt Nam là nhóm cá ngừ nhỏ, di cư địa phương và nhóm cá ngừ di cư đại dương. Trong đó, nhóm cá ngừ di cư đại dương, gồm những loài như cá ngừ mắt to, cá ngừ vây vàng, cá ngừ vằn, ... là những đối tượng có giá trị xuất khẩu cao. Từ những năm 1990, công nghệ câu vàng để khai thác cá ngừ đại dương được du nhập vào Việt Nam và phát triển khá nhanh, tạo ra một đối tượng xuất khẩu mới. Đến những năm gần đây, nghề khai thác cá ngừ phục vụ xuất khẩu ở Việt Nam ngày càng được quan tâm nhiều hơn, sản lượng khai thác từ vài trăm tấn những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đã lên tới khoảng 30 nghìn tấn mỗi năm gần đây. Tuy nhiên, mặc dù còn nhiều tiềm năng để gia tăng khai thác cá ngừ, song do công nghệ khai thác chưa hoàn thiện, trang thiết bị kém, cộng với tổ chức sản xuất theo quy mô nhỏ, kỹ thuật sơ chế, bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu nên năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm cá ngừ khai thác không cao, giá bán sản phẩm cá ngừ của Việt Nam còn thấp và không ổn định. Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến sản phẩm giá trị gia tăng, công nghiệp đồ hộp chưa phát triển nên giá trị xuất khẩu sản phẩm cá ngừ còn thấp, năm 2005 chỉ chiếm 4,82% về khối lượng và 3,04% về giá trị trong tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Cá ngừ Việt Nam cũng chưa có thương hiệu riêng nên khả năng thâm nhập thị trường bị hạn chế, phụ thuộc nhiều vào khách hàng và các nhà trung gian. Phần lớn cá ngừ được xuất khẩu dưới dạng thăn nguyên liệu. Tỉ trọng sản phẩm xuất khẩu giá trị cao như nguyên con, ướp đông hay sản phẩm chế biến giá trị gia tăng chỉ chiếm chưa đầy 30% tổng khối lượng xuất khẩu. Cùng với sự gia tăng về sản lượng, thị trường tiêu thụ cá ngừ của Việt Nam cũng dần được mở rộng. Từ 25 thị trường xuất khẩu năm 2002, đến năm 2005, Việt Nam đã bán cá ngừ sang hơn 60 nước và vùng lãnh thổ.

Mỹ là thị trường tiêu thụ cá ngừ đứng đầu, chiếm tới 41,65% thị phần (năm 2005). Mặt hàng cá ngừ xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu cá cá ngừ mắt to tươi (chiếm 31,2%) và cá ngừ vây vàng tươi (chiếm 28,9%). Cá ngừ đóng hộp của Việt Nam chỉ chiếm tỉ trọng 5,76% trong tổng lượng nhập khẩu cá ngừ đóng hộp của Mỹ, thấp hơn rất nhiều so với Thái Lan, Philippin, Ecuađo và Inđônêxia. Thị trường tiêu thụ lớn thứ hai là Nhật Bản, chiếm trên 15% giá trị xuất khẩu cá ngừ. Các thị trường còn lại chiếm thị phần rất nhỏ so với hai thị trường lớn trên. Sự tập trung quá vào một vài thị trường như vậy cũng có thể có những nguy cơ không bền vững. Bài học về tôm và cá tra, basa đã đặt ra cho các doanh nghiệp chế biến cá ngừ một yêu cầu lớn trong vấn đề về đa dạng hoá thị trường.

Bảng 18: Một số thị trường xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam 

Thị trường

2003

2004

2005

Khối lượng

Giá trị

Khối lượng

Giá trị

Khối lượng

Giá trị

Tấn

USD

Tỷ trọng (%)

Tấn

USD

Tỷ trọng (%)

Tấn

USD

Tỷ trọng (%)

Mỹ

7574,5

25612274

53,67

8660,5

22908854

41,61

11972,3

34563439

41,65

Nhật Bản

2819,9

10777621

22,58

2824,4

8629999

15,68

3863,8

13159012

15,86

Đức

275,4

493424

1,03

684,3

1741249

3,16

2421,3

4557997

5,49

Israel

580,4

1490083

3,12

941,6

2422390

4,40

1171,9

3220603

3,88

Đài Loan

787

1336985

2,80

1305

2317873

4,21

1586,9

2608610

3,14

Tây Ban Nha

75,2

163447

0,34

642,2

1790158

3,25

1127,9

1916320

2,31

Bỉ

4,5

14625

0,03

173,3

793438

1,44

305,1

1331632

1,60

Séc

1275,9

1116759

2,34

465,9

588126

1,07

693,3

1138952

1,37

Thái Lan

167,5

201452

0,42

534,9

874588

1,59

556,8

999830

1,20

Hồng Kông

417

475980

1,00

614,3

1087986

1,98

574,3

978655

1,18

Thị tr­ường khác

3385

6040305

12,66

3937,3

11900300

21,62

6148,2

18505988

22,30

Tổng số

17362,3

47722955

100,00

20783,7

55054961

100,00

30421,8

82981038

100,00

 

Cá rô phi: Từ năm 2002, Bộ Thuỷ sản mới phát động phong trào nuôi cá rô phi xuất khẩu. Năm 2004, sản lượng cá rô phi nuôi của cả nước mới chỉ đạt khoảng 20 – 30 nghìn tấn và chỉ đạt giá trị xuất khẩu gần 120.000 USD phi lê cá rô phi đông lạnh, chiếm vị trí rất khiêm tốn so với các nước xuất khẩu khác (Trung Quốc xuất hơn 85 triệu USD). Hiện nay cá rô phi được định hướng là một trong những mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu triển vọng của Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng cung cấp nguyên liệu của nước ta hiện chưa đáp ứng được nhu cầu cho chế biến xuất khẩu do kích cỡ cá nuôi còn nhỏ. Trong tương lai gần, mục tiêu của ngành nuôi thuỷ sản là nâng cao sản lượng cá rô phi lên 120.000 – 150.000 tấn, trong đó dành 2/3 sản lượng cá này cho xuất khẩu. Dự kiến, đến năm 2010, Việt Nam có thể sản xuất được 200.000 tấn cá rô phi thương phẩm, trong đó khoảng 50% sản lượng dành cho xuất khẩu.

Nhuyễn thể

Mực, bạch tuộc

Nguyên liệu sản xuất sản phẩm nhuyễn thể chân đầu phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên, trong khi đó thị trường tiêu thụ sản phẩm này khá rộng từ các nước thuộc khu vực Đông và Đông Nam Á tới các nước châu Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, nên giá bán các sản phẩm nhuyễn thể chân đầu luôn giữ được mức khá ổn định. Nhật Bản vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm nhuyễn thể chân đầu lớn nhất. Đây cũng là mặt hàng được sản xuất thành những sản phẩm có giá trị gia tăng như sushi, sushimi đang được ưa chuộng và trở nên phổ biến trong ẩm thực của những người có thu nhập cao trên thế giới đặc biệt là Nhật, các nước Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Tuy nhiên, do tỷ lệ sản phẩm chế biến giá trị gia tăng của sản phẩm nhuyễn thể chân đầu không cao nên giá xuất khẩu bình quân các sản phẩm này của Việt Nam còn thấp. Xuất khẩu mực, bạch tuộc của Việt Nam tăng trưởng ổn định gần như tương ứng với nhịp độ tăng trưởng của tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, chiếm từ 9 – 11% khối lượng và 5 – 7% về giá trị.

Nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Nhuyễn thể hai mảnh vỏ đang trở thành những mặt hàng thuỷ sản được ưa chuộng rộng trên thế giới. Thị trường tiêu thụ lớn nhất là các nước châu Âu. Đáng chú ý là các sản phẩm chế biến từ nhiều loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ thường được dùng chủ yếu tại các nhà hàng và trở thành món đặc sản. Nhuyễn thể hai mảnh vỏ được khai thác và nuôi ở nhiều vùng nước có xu hướng gia tăng sản lượng nhất là một số nước Nam Âu và Nam Á. Ở Việt Nam, nhuyễn thể hai mảnh vỏ là sản phẩm xuất khẩu phát triển mạnh từ năm 1999. Nhiều tỉnh ven biển nước ta có nguồn lợi nghêu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, trong đó 4 địa phương có sản lượng lớn là Tp. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre và Kiên Giang. Kim ngạch xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam chưa cao do sản lượng còn nhỏ bé, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Ước tính sản lượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam đạt gần 200.000 tấn/năm. Giá trị xuất khẩu nghêu đã tăng từ 5,3 triệu năm 1999 và đạt kỷ lục trong năm 2002 (12.458 tấn, giá trị hơn 20 triệu USD). Năm 2004, xuất khẩu thịt nghêu đông lạnh của Việt Nam đã tăng 50% về khối lượng và 63% về giá trị so với năm 2000. Vấn đề hiện nay là sản lượng còn thấp. Mặt khác, do đây là những đối tượng rất nhạy cảm với an toàn thực phẩm nên thị trường xuất khẩu còn hạn chế, chế biến sản phẩm giá trị gia tăng đối với nhóm sản phẩm này ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên thực tế thấy nhuyễn thể hai mảnh vỏ là đối tượng sản xuất có hiệu quả cao.

Bảng 19: Xuất khẩu nghêu của Việt Nam (1999-2004)

 

 

1999

2000

2001

2002

2003

2004

Khối lượng (tấn)

2.937

3.712

8.874

12.458

10.670

5.566

Giá trị  (USD)

5.345.749

8.239.602

14.729.751

20.296.360

19.251.100

13.435.509

(Nguồn: thống kê hải quan)

 Bảng 20: Các thị trường xuất khẩu nghêu đông lạnh chính của Việt Nam

 

STT

Thị trường

2000

2004

Tấn

USD

Tấn

USD

1

Nhật Bản

939

2.744.832

1.330

4.421.644

2

Mỹ

159

   336.759

 921

2.247.148

3

Italia

764

1.639.561

 543

1.547.884

4

Hàn Quốc

154

   297.837

 857

1.364.165

5

Tây Ban Nha

  29

     58.119

 584

959.040

6

Bỉ

-

-

 396

862.047

7

Bồ Đào Nha

  75

   162.381

 299

579.575

8

Canađa

  43

   127.478

 168

393.125

9

Niu Dilân

715

1.441.042

 154

275.816

10

Trung Quốc

  20

     65.933

   43

171.951

 

Thị trường khác

812

1.365.660

5.297

12.822.395

Tổng cộng

5.566

  3.712

8.239.602

13.435.509

 

Tóm lại, việc đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đang thay đổi nhanh của cả người tiêu dùng trong và ngoài nước là rất cần thiết. Nhưng thời gian qua, tốc độ tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam còn chậm. Nếu hoạt động này không được đẩy mạnh trong thời gian tới thì việc tăng kim ngạch xuất khẩu sẽ khó khăn. Vì vậy các cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học công nghệ và các doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư nghiên cứu thị hiếu và thói quen tiêu dùng của từng thị trường cũng như các phương thức sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để có những chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp. Nhập khẩu và tiêu thụ thuỷ sản ở các nước phát triển sẽ là những loài có giá trị cao và đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về an toàn. Ngược lại, tiêu thụ ở các nước đang phát triển sẽ tập trung vào các loài có giá trị thấp, đáp ứng nhu cầu về protein của tầng lớp dân nghèo và cung cấp nguyên liệu đầu vào để chế biến thức ăn nuôi trồng thuỷ sản và gia súc.

B.3.1.3 Thị trường xuất khẩu

Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam những năm qua không thể tách rời với công tác phát triển thị trường. Hiện nay, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở khoảng 130 thị trường trên thế giới. Các doanh nghiệp đã chuyển hẳn từ tiếp thị thụ động sang tiếp thị chủ động. Nhờ đó đã hình thành thế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy trì tăng trưởng bền vững. Hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam không lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường truyền thống Nhật Bản như những năm trước đây, giảm hẳn tỷ trọng các thị trường trung gian và bắt đầu giành được vị trí quan trọng trên các các thị trường lớn, có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn vệ sinh như Mỹ, EU, Canađa, Nhật Bản, Ôxtrâylia... Các doanh nghiệp thuỷ sản đã có thể điều chỉnh được cơ cấu thị trường, khi thị trường truyền thống có biến đổi bất lợi. Việc mở rộng và điều chỉnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm cá tra, basa là một minh chứng về sự thành công của Việt Nam cho khẳng định này. Bên cạnh đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam còn luôn chú trọng khai thác chiều sâu của các thị trường chính, thực hiện “khai thác thị trường mới trên địa bàn cũ” như Mỹ, Nhật, EU. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu vào Mỹ, Nhật Bản và EU đã chiếm khoảng 65% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Số liệu này khẳng định thêm tầm quan trọng của ba thị trường này đối với ngành thuỷ sản của Việt Nam.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản đã có sự thay đổi rõ nét kể từ năm 2000 đến nay. Trước tiên là việc Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam cùng với Nhật Bản. Trước kia thị trường Nhật thường chiếm tỷ trọng 50 – 60% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng trong gần 10 năm trở lại đây chỉ còn trên dưới 30%. Các thị trường tiêu thụ hàng thuỷ sản của Việt Nam ở châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc khá ổn định, chiếm tỷ trọng khoảng 3 – 6% giá trị xuất khẩu, vị trí tiếp theo thuộc về các nước ASEAN. Thị trường EU cũng là một mục tiêu quan trọng mà xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam hướng tới và đã cố gắng khai thác từ những năm 1990 song không mấy thành công. Nhưng đến vài năm trở lại đây, những cố gắng đó đã được đền đáp xứng đáng. Năm 2006, EU đã chiếm khoảng 22% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đứng vị trí thứ hai sau Nhật Bản. Thành công này có liên quan mật thiết với sự “bùng nổ” xuất khẩu cá tra, basa nói trên.

Bảng 21: Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam

 

2001

2002

2003

2004

2005

 

Giá trị

(1000 USD)

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

(1000USD)

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

(1000USD)

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

(1000USD)

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

(1000USD)

Tỷ trọng

(%)

Mỹ

489.035

27,51

654.977

32,38

777.656

35,35

602.969

25,12

649.630

23,81

Nhật Bản

465.901

26,21

537.459

26,57

582.838

26,50

772.195

32,16

824.907

30,24

EU

90.745

5,11

73.720

3,64

116.739

5,31

231.528

9,64

433.085

15,88

Bỉ

18.517

1,04

18.574

0,92

31.935

1,45

51.075

2,13

76.482

2,80

Đức

20.708

1,16

11.750

0,58

18.245

0,83

44.200

1,84

67.812

2,49

Italia

13.075

0,74

17.491

0,86

23.043

1,05

32.123

1,34

63.202

2,32

Hàn Quốc

102.788

5,78

114.308

5,65

107.296

4,88

144.002

6,00

162.083

5,94

Đài Loan

93.519

5,26

116.261

5,75

70.723

3,22

106.072

4,42

118.965

4,36

Hồng Kông

121.953

6,86

129.325

6,39

96.320

4,38

85.917

3,58

73.823

2,71

Trung Quốc

194.766

10,96

172.612

8,53

50.785

2,31

46.827

1,95

60.843

2,23

Úc

23.870

1,34

29.672

1,47

44.398

2,02

82.973

3,46

98.802

3,62

Canađa

20.218

1,14

16.477

0,81

22.514

1,02

56.839

2,37

66.971

2,45

ASEAN

64.860

3,65

79.343

3,92

73.013

3,32

167.488

6,98

127.091

4,66

Singapo

24.980

1,41

35.747

1,77

27.527

1,25

79.407

3,31

42.644

1,56

Thái Lan

25.214

1,42

27.535

1,36

29.852

1,36

26.401

1,10

40.987

1,50

Các thị trường khác

109.830

6,18

98.667

4,88

257.295

11,70

103.971

4,33

111.823

4,10

Cộng

1.777.486

100,00

2.022.821

100,00

2.199.577

100,00

2.400.781

100,00

2.728.023

100,00

 

Mỹ: Từ năm 1994, Mỹ bỏ lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam. Thuỷ sản Việt Nam đã bắt đầu được xuất khẩu sang thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng rất nhanh. Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản từ Việt Nam sang Mỹ đạt trên 80 triệu USD, tăng gấp đôi năm 1997 (40 triệu USD). Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ vượt ngưỡng 100 triệu USD, đạt 130 triệu USD, tăng 62,5% so với năm 1998.

Năm 2000, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ tăng đột biến, đạt gần 300 triệu USD, gấp 2,14 lần so với năm 1999 và là mức tăng nhanh nhất trong số các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ. Thị trường Mỹ đã trở thành thị trường quan trọng chiếm vị trí dẫn đầu, với thị phần tăng nhanh. Điều này có thể là kết quả của những tác động ban đầu của việc đàm phán và ký kết thành công Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ.

Sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực tháng 12/2001, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Mỹ đã phát triển nhảy vọt, đưa Mỹ trở thành một trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam. Năm 2001, Mỹ đã thay thế Nhật trở thành thị trường nhập khẩu thuỷ sản đứng đầu, chiếm 27,51% so với 26,21% thị phần của Nhật Bản. Mỹ tiếp tục duy trì vị trí này liên tục trong 3 năm liền (2001 – 2003). Việt Nam vươn lên vị trí 14 so với vị trí thứ 26 vào những năm 1990 trong số các nước xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ. Năm 2004, sau tác động của vụ kiện bán phá giá cá tra, basa và vụ kiện bán phá giá tôm, thị phần xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Việt Nam bị thu hẹp và Nhật Bản trở lại vị trí là nước nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam. Khối lượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đều giảm, chỉ đạt 91.381 tấn tương ứng với 603 triệu USD, giảm 25,2% về khối lượng và 22,46% về giá trị so với năm 2003. Năm 2005, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ có tăng nhưng vẫn chưa bằng mức của năm 2002, chiếm 23,81% giá trị xuất khẩu thuỷ sản so với 30,24% của Nhật.

Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngày một đa dạng. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ chiếm tới 74% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu. Việt Nam trở thành nước xuất khẩu tôm sang Mỹ đứng thứ 4 về giá trị và đứng thứ 7 về khối lượng. Tuy nhiên, tôm Việt Nam vẫn chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ (5,3%) trong tổng lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ so với Thái Lan (44,2%) và Mêhicô (10,2%). Đến năm 2003, giá trị xuất khẩu tôm đông lạnh vẫn tiếp tục tăng, đạt 469 triệu USD, nhưng chỉ còn chiếm 64% trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ. Ngoài tôm, Việt Nam còn xuất khẩu sang Mỹ các sản phẩm tươi sống như cá ngừ, cá thu và cua với mức giá ổn định. Mặt hàng cá tra, basa phi lê đông lạnh cũng là mặt hàng độc đáo của Việt Nam tại thị trường Mỹ và rất được người dân Mỹ ưa chuộng. Tuy nhiên, vụ kiện cá tra, basa và mức thuế trừng phạt áp dụng đối với sản phẩm này vào năm 2003 khiến giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ giảm tới 56,3% so với năm 2002. Vụ kiện bán phá giá tôm cũng gây thiệt hại đáng kể cho xuất khẩu tôm của Việt Nam, từ 513,8 triệu USD năm 2003 giảm xuống còn 397,7 triệu USD năm 2004 (-22,59%). Các khoản tiền ký quỹ, thuế chống bán phá giá khiến việc xuất khẩu sang thị trường này trở nên bấp bênh, gây tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản.

 Tuy vậy, trong tương lai tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ vẫn tiếp tục tăng trong khi lượng thuỷ sản trong nước chỉ cung cấp được từ 15 – 20%, nên nhập khẩu của Mỹ sẽ tăng không chỉ đối với riêng Việt Nam. Nhiều mặt hàng thuỷ sản khác nhau có thể sẽ được nhập khẩu vào thị trường này để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của các tầng lớp dân cư Mỹ và một phần không nhỏ phục vụ cho nhu cầu tái chế và tái xuất. Tôm đông lạnh, tôm nguyên liệu, cá ngừ đóng hộp, cá ngừ, cá rô phi sẽ là những mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ lớn. Mặc dù các doanh nghiệp sẽ còn gặp phải có nhiều sóng gió và biến động trên thị trường này, nhưng Hoa Kỳ vẫn là thị trường chứa đựng nhiều tiềm năng và cần tiếp tục mở rộng do nhu cầu nhập khẩu hàng thuỷ sản hằng năm lớn (khoảng 10 tỷ USD), giá thường cao hơn các thị trường khác.

 

Nhật Bản:  Trong giai đoạn thập kỷ 1960 – 1970, Nhật Bản là thị trường gần như duy nhất ở những nước không phải XHCN đối thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam, chiếm tới 70 – 75% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong thập kỷ 1980 và 1990, Việt Nam đã từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu nên thị phần xuất khẩu sang Nhật bị thu hẹp dần xuống mức 50 – 60%. Cuối thập kỷ 1990, tỷ trọng này giảm còn 40 – 45% và đến nay còn khoảng 25 – 30%. Đây là một tỷ trọng tương đối hợp lý đối với cơ cấu thị trường xuất khẩu của Thuỷ sản Việt Nam. Nhìn chung, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Nhật Bản trong 3 thập kỷ qua có xu hướng tăng, tuy nhiên về khối lượng có bị giảm nhẹ vào giai đoạn 1998 – 2000.

Từ năm 2001 – 2003, thị trường Nhật Bản bị đẩy lùi xuống vị trí thứ 2 sau Mỹ. Mặc dù khối lượng và giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản trong 3 năm này vẫn có sự tăng trưởng liên tục song tốc độ tăng trưởng giảm dần. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật giai đoạn này duy trì ổn định ở mức xấp xỉ 26%, giá trị nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Nhật năm 2003 đạt 582,8 triệu USD so với 777,7 triệu USD vào Mỹ. Nhưng sau năm 2003, Nhật Bản trở lại là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, khối lượng xuất khẩu thuỷ sản năm 2005 là 129.780 tấn, với giá trị là 824,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng trong tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tương ứng là 20,56% và 30,24%. Những số liệu đó cho thấy Nhật Bản là thị trường đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Các sản phẩm tôm, nhuyễn thể chân đầu, cá và cá ngừ của Việt Nam đều có doanh số tương đối lớn trên thị trường Nhật Bản. Mặt hàng tôm Nobashi của Việt Nam đang được ưa chuộng. Năm 2002, Việt Nam là một trong ba nước xuất khẩu tôm sang Nhật lớn nhất với 32.800 tấn với giá trị 255 triệu USD, tăng 7,2% về khối lượng và 2,8% về giá trị so với năm 2001, nhưng giá tôm Việt Nam tương đối thấp. Hầu hết các doanh nghiệp thuỷ sản lớn đều có chế biến sản phẩm này đem loại hiệu quả cao và có doanh số tương đối lớn trên thị trường Nhật.

Với vị thế quan trọng như vậy, việc duy trì chỗ đứng trên thị trường Nhật Bản là một yêu cầu thiết yếu đối với xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Những phát hiện vào cuối năm 2006 của các nhà chức trách Nhật Bản sau khi nước này thực thi các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm mới, về chất lượng và vệ sinh an toàn đối sản phẩm mực và tôm của Việt Nam, từ đó đi đến quyết định kiểm tra 100% các lô hàng mực và tôm xuất khẩu từ Việt Nam là một mối nguy lớn, đe doạ cả ngành thuỷ sản nói chung. Đó cũng là dấu hiệu rõ ràng của sự thiếu đồng bộ trong hệ thống bảo đảm an toàn chất lượng sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam hiện nay.

 

EU là thị trường có nhu cầu lớn và ổn định về hàng thuỷ sản, nhưng lại là thị trường được coi là có yêu cầu cao nhất đối với sản phẩm nhập khẩu, với các quy định khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh. Tuy nhiên do chủ động thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh đáp ứng yêu cầu của thị trường này, nên trong thời gian qua xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU đã có những bước phát triển đáng chú ý. Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2003, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường này còn rất nhỏ bé chỉ chiếm khoảng 3 – 5%. Đến năm 2004, khi thêm 10 nước gia nhập vào khối EU thì giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang khối này đã có sự tăng trưởng mạnh tới 98,33% so với năm 2003, chiếm 9,64% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng sự tăng trưởng vào năm 2004, không chỉ do 10 nước mới gia nhập đóng góp mà còn do sự tăng trưởng xuất khẩu vào các nước EU cũ như Bỉ (+59,94%), Đức (+142,26%), Italia (+39,4%)... Rõ ràng xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU đã có sự tăng trưởng liên tục và có những biến đổi về chất kể từ năm 2004 đến nay. Năm 2005, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường này đã đạt 433,08 triệu USD, gấp 1,87 lần so với năm 2004 và chiếm tới 15,88% thị phần giá trị xuất khẩu thuỷ sản. Đây là một tín hiệu đáng mừng, đánh dấu kết quả của sự phấn đấu không ngừng của ngành thuỷ sản trong hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường và sản phẩm, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, vượt qua những rào cản kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đến đầu năm 2006 Uỷ ban Liên minh châu Âu đã công nhận thêm 38 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU, nâng tổng số doanh nghiệp được công nhận lên 209. Ước tính kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này năm 2006 có thể đạt 700 triệu USD chiếm khoảng 22% tổng thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Mặc dù vậy còn nhiều e ngại đối với những rào cản về kiểm soát dư lượng kháng sinh do thị trường EU đặt ra, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vẫn nhận định EU là thị trường đối trọng mỗi khi có biến động trên thị trường Nhật và Mỹ. Đồng thời việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU sẽ góp phần nâng cao uy tín của hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Trong thời gian tới, để đứng vững và đảm bảo tăng trưởng bền vững trên thị trường EU, đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến Việt Nam và các khâu hoạt động có liên quan phải không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý.

 

Trung Quốc và Hồng Kông: là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản trung bình trên thế giới, nhưng là láng giềng gần gũi có nhiều nét tương đồng về tiêu dùng và văn hoá với Việt Nam. Đây là thị trường có nhiều triển vọng cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Nhập khẩu của Trung Quốc và Hồng Kông chủ yếu được dùng để tái chế biến phục vụ xuất khẩu. Giá trị nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc và Hồng Kông tăng rất nhanh trong những năm gần đây do sự phát triển ồ ạt công nghiệp chế biến và tái chế các mặt hàng thuỷ sản cao cấp như cá philê, cá hộp và các mặt hàng chín ăn liền phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh đó, do nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định nhiều năm nên nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản trên thị trường này đang tăng nhanh và chủng loại đa dạng, từ các sản phẩm có giá trị rất cao như các loại cá sống đến các loại sản phẩm giá trị thấp, không đòi hỏi cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm như hàng cá khô và mực nút nguyên con. Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn là mua bán qua biên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ trước đến nay thị trường Trung Quốc và Hồng Kông vẫn là thị trường dễ tính về chất lượng, an toàn vệ sinh, nhưng sau khi trở thành thành viên WTO, Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng các rào cản kỹ thuật, an toàn vệ sinh đối với hàng hoá nhập khẩu. Từ ngày 30/6/2003 các lô hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Trung Quốc phải được kiểm tra và cấp chứng nhận chất lượng an toàn vệ sinh theo các chỉ tiêu do Trung Quốc quy định, đồng thời phải đăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Trung Quốc kèm theo mã số. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến xuất khẩu thuỷ của Việt Nam vào thị trường này giảm mạnh từ năm 2003 đến nay.

Trong giai đoạn thập kỷ 1980 – 1990, Trung Quốc chiếm 2% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2000 đã vươn lên đứng thứ 3 chiếm 15%. Tuy nhiên, đến năm 2003 do sự thay đổi về cơ chế nhập khẩu và ảnh hưởng của dịch SARS mà kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Trung Quốc đã sụt giảm mạnh. Mặc dù vẫn đứng thứ 3, nhưng xuất khẩu vào thị trường này vẫn giảm nhiều so với năm 2002, khối lượng giảm 46,8% về giá trị giảm 51,28% chỉ còn chiếm tỷ trọng 6,69% trong tổng giá trị kim ngạch của Việt Nam. Xu hướng giảm này vẫn duy trì đến năm 2005, giá trị xuất khẩu sang thị trường này chỉ còn 134,7 triệu USD so với 316,7 triệu USD năm 2001. Có nhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng trên, song những kết quả ấy cũng buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi, liệu công tác xúc tiến thương mại, duy trì thị trường truyền thống còn có chỗ nào lệch hướng, bất cập. Đây là thị trường lớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu hướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của khu vực châu Á, với đặc điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thị trường tái chế và tái xuất. Tôm hùm, tôm sú, cá ngừ, mực… đang có xu hướng tiêu thụ ngày càng tăng trên thị trường này, do thu nhập của dân cư ở các đô thị của Trung Quốc không ngừng được nâng lên. Các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm của thị trường Trung Quốc và Hồng Kông chắc chắn sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Ngược lại, hàng thuỷ sản nguyên liệu nhập từ các nguồn này vào Việt Nam ngày càng tăng nhưng Việt Nam lại chưa có biện pháp cụ thể để kiểm soát.

 

Các thị trường khác

Các thị trường khác thuộc châu Á đã được Việt Nam quan tâm ngày một nhiều hơn, nhất là khi thuế nhập khẩu vào các thị trường khu vực giảm xuống 0 – 5% và khi thị trường lớn có biến động. Tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào các thị trường này tăng lên đáng kể, từ 23,1% năm 1998 lên khoảng 26% năm 2003, năm 2005 tăng 21,45% so với năm 2004. Trong đó phải kể đến hai thị trường quan trọng là Hàn Quốc và Đài Loan. Năm 2004 thị phần xuất khẩu vào Hàn quốc đạt 5,8% tăng 31,2% và xuất vào Đài Loan đạt 4,4% tăng 49%. Các thị trường này chủ yếu nhập khẩu cá biển, mực, bạch tuộc. Do Hàn Quốc có công nghiệp chế biến phát triển ở trình độ cao nên đây cũng là một trong những thị trường ở châu Á có yêu cầu khá cao về vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2002 Hàn Quốc bắt đầu áp dụng quy định nước xuất khẩu phải đăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Hàn Quốc (điều kiện sản xuất an toàn vệ sinh phải đạt tiêu chuẩn Hàn Quốc và nước sở tại) đồng thời buộc các lô hàng xuất khẩu phải kèm theo chứng thư theo mẫu Hàn Quốc quy định (trong đó phải ghi rõ mã số của doanh nghiệp sản xuất hàng đã được phía Hàn Quốc chấp nhận). Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu trên nên xuất khẩu sang Hàn Quốc vẫn tăng trưởng liên tục. Đây là thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ 4 của Việt Nam, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc với tổng trị giá lên tới 162,1 triệu USD, chiếm 5,94% tổng giá trị.

Ôxtrâylia, ngoài việc bắt buộc chứng nhận tôm nhập khẩu không mang mầm bệnh (đốm trắng, đầu vàng), thị trường này đã có những phản ánh về tình hình chất lượng và an toàn vệ sinh thuỷ sản (bạch tuộc vòng xanh, bảo quản thuỷ sản khô bằng cacbon điôxit...) nhưng chưa mang tính hệ thống. Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có hiểu biết đầy đủ về thị trường này, nhưng những năm qua xuất khẩu sang thị trường Ôxtrâylia vẫn có sự tăng trưởng tuy nhịp độ không đều. Năm 2005, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Ôxtrâylia đạt 98,8 triệu USD, chiếm 3,62% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản, gấp 4 lần so với năm 2001.

Bên cạnh thị trường EU, các nước Đông Âu cũng là một thị trường xuất khẩu thuỷ sản tiềm năng của Việt Nam tại châu Âu. Đặc biệt một số nước Đông Âu mới gia nhập EU đã trở thành những nhà nhập khẩu đáng kể như Ba Lan, Litva… Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Đông Âu còn chưa cao, nhưng đây cũng là hướng phát triển mới đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản khi gặp khó khăn trên thị trường Mỹ. Điều này đã được chứng minh cụ thể đối với sản phẩm cá tra, basa xuất khẩu.

Nga đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong 11 tháng năm 2006, Nga đã nhập khẩu từ Việt Nam 51,92 ngàn tấn sản phẩm thuỷ sản, giá trị 111,35 triệu USD, chiếm gần 3,5% tổng thị phần.

Tóm lại, trong thời gian qua, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản từ những bước đầu chập chững làm quen với những quy định trên thị trường thế giới, gặp không ít va vấp nhưng đã có thêm nhiều kinh nghiệm để tiếp tục khẳng định vị trí của của mình trên thị trường thuỷ sản. Các hoạt động phát triển thị trường vẫn được các doanh nghiệp triển khai mạnh mẽ và liên tục, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Trung Đông, châu Phi... góp phần giảm rủi ro khi có các tranh chấp xảy ra. Trong tương lai, thuỷ sản sẽ tiếp tục là sản phẩm đem lại nguồn thu nhập lớn cho Việt Nam. Những rào cản thương mại sẽ ngày càng trở nên khắt khe và cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày một gay gắt. Các nhà cung cấp thuỷ sản vẫn sử dụng giá như vũ khí lợi hại để chiếm lĩnh thị trường, nên xu hướng tăng giá trên thị trường thế giới cũng bị hạn chế. Đặc biệt, tại các nước phát triển, an toàn vệ sinh thực phẩm mới là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm.

 

B.3.2. Nhập khẩu

                              B.3.2.1 Tình hình chung

Thuỷ sản là loại thực phẩm được nhiều người Việt Nam ưa chuộng. Tuy nhiên, do giá của chúng còn khá cao so với các loại thực phẩm  đang được sử dụng hằng ngày khác và thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp nên phần nào đã hạn chế lượng tiêu dùng. Do đó các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu thường chưa phải là lựa chọn của số đông người Việt Nam. Trong những năm trước, nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam còn rất nhỏ bé, chỉ bằng 4 – 5% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, tình hình đã có thay đổi đáng kể trong mấy năm gần đây, một mặt do nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản cho mục đích thực phẩm của dân cư tăng lên nhanh chóng, mặt khác do yêu cầu đáp ứng nguyên liệu để chế biến sản phẩm dành cho tái xuất khẩu. Đặc biệt, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tăng trưởng với tốc độ khoảng 20%/năm đã đòi hỏi lượng nhập khẩu con giống (tôm, cá giống), bột cá và một số nguyên liệu gốc thuỷ sản khác để làm thức ăn phải tăng theo với tốc độ tương ứng. Theo số liệu thống kê từ năm 2001 – 2004, tổng khối lượng và giá trị hàng nhập khẩu liên tục tăng. Nếu năm 2001 khối lượng nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam mới là 9.453 tấn, đạt giá trị 36,020 triệu USD thì nhập khẩu thuỷ sản năm 2002 đã gấp 2,28 lần về khối lượng và 2,57 lần về giá trị. Năm 2004, khối lượng thuỷ sản nhập khẩu cao gấp 4,4 lần, gía trị tăng hơn 5 lần so với năm 2001. Theo dự báo của Bộ Thuỷ sản, chỉ riêng mục tiêu để đáp ứng đủ nhu cầu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, từ nay đến 2010, nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam sẽ phải tăng với tốc độ từ 8 đến 10% mỗi năm, khối lượng nhập khẩu năm 2010 có thể đạt ít nhất là 200 nghìn tấn.

Một vấn đề đang nổi cộm hiện nay là, các sản phẩm thuỷ sản được nhập khẩu vào Việt Nam theo cả hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch, do đó việc thống kê, theo dõi về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm đều chưa đáp ứng yêu cầu quản lý. Các số liệu về sản lượng và giá trị nhập khẩu nêu ra dưới đây chỉ dựa vào thống kê nhập khẩu theo con đường chính ngạch do cơ quan hải quan thực hiện, không có số liệu nhập khẩu tiểu ngạch. Trong các số liệu dẫn ra dưới đây cũng có thể không có mặt một khối lượng đáng kể bột cá nhập khẩu cho muc đích chăn nuôi gia súc, gia cầm, thường được xếp vào nhóm sản phẩm nông nghiệp hoặc công nghiệp. Sản phẩm vẫn chưa được quản lý chặt chẽ về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều loại không rõ xuất xứ và thời hạn sử dụng. Việc quản lý nguồn nhập khẩu không đầy đủ như vậy không chỉ cản trở công tác quản lý, gây tác hại đối với người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến cả nguồn cung cấp nguyên liệu trong nước. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý và nhận thức về quyền lợi của người tiêu dùng.

B.3.2.2  Sản phẩm nhập khẩu

Các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu là cá đông lạnh, tôm đông lạnh, cá ngừ, tôm hùm, mực, bạch tuộc, thuỷ sản đóng hộp và bột cá. Các sản phẩm này được sử dụng vào  ba nhóm mục đích khác nhau: tiêu dùng cho dân cư, làm nguyên liệu chế biến và phục vụ cho sản xuất thức ăn chăn nuôi, bao gồm cả thức ăn nuôi thuỷ sản.

Hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt khá cao, thu nhập của người dân cũng tăng lên, đời sống của người Việt Nam ngày càng được cải thiện. Do đó  lượng tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu, nhất là các sản phẩm đã qua chế biến cũng tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu thực phẩm cao cấp, trong đó có các loại thuỷ sản như cá hồi, trứng cá, v.v...phục vụ cho các nhà hàng cao cấp, khách du lịch cũng tăng nhanh qua từng năm. Điều này có thể thấy khá rõ qua số liệu nhập khẩu các sản phẩm thuỷ sản chế biến. Năm 2001 Việt Nam mới chỉ nhập khẩu 221,7 tấn thuỷ sản chế biến các loại (chiếm 2,35% tổng khối lượng thuỷ sản nhập khẩu) đạt giá trị 870,9 nghìn USD (2,42% tổng giá trị nhập khẩu), năm 2003 khối lượng các sản phẩm này nhập khẩu vào Việt Nam gấp 3,14 lần so với năm 2001. Các loại thuỷ sản nhập khẩu phục vụ tiêu dùng có thể kể đến là cá hồi tươi, cá hồi đông lạnh, tôm hùm, cá hộp, nghêu sò và nhiều loại cá biển khác, có đủ loại từ cao cấp như cá hồi, trứng cá, tôm hùm nhưng số lượng không lớn, đến loại trung bình như cá hộp, tôm đông, cá đông.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập cá, tôm đông lạnh để tái chế biến xuất khẩu và bột cá để chăn nuôi, sản phẩm phục vụ mục đích này chiếm tới trên 80% khối lượng nhập khẩu. Mỗi năm khai thác và nuôi trồng thuỷ sản trong nước mới có khả năng cung cấp cho ngành chế biến chưa đầy 2 triệu tấn nguyên liệu, nói chung không đủ đáp ứng công suất hoạt động bình thường của các cơ sở chế biến trong nước, nhất là trong thời gian những năm gần đây, khi số cơ sở chế biến mới đưa vào hoạt động ngày càng nhiều. Đặc biệt, do tính mùa vụ của sản xuất nguyên liệu thuỷ sản, khi chưa đến vụ thu hoạch, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu, chỉ có khả năng hoạt động với chưa đầy 60% công suất nên phải nhập khẩu nguyên liệu để duy trì hoạt động thường xuyên của mình và kịp thời đáp ứng các đơn hàng đã ký với bạn hàng nước ngoài. Trong tổng giá trị nhập khẩu, tôm đông lạnh chiếm trên 60%, tiếp đó là cá chiếm trên 10%, mực và bạch tuộc đông lạnh khoảng 3%, nguyên liệu này chủ yếu để phục vụ chế biến sau đó được tái xuất khẩu.

Bảng 22: Nhập khẩu thuỷ sản theo mặt hàng

Mặt hàng

2001

2002

2003

2004

KL(tấn)

KN(USD)

KL(tấn)

KN(USD)

KL(tấn)

KN(USD)

KL(tấn)

KN(USD)

Tôm đông lạnh các loại

1608,9

11835900

5045

30144876

2526,5

13682363

13.720,4

85739677

Tôm hùm

 

 

 

 

 

 

0,02

215

Tôm Sắt

23

96859

153,2

469180

213,1

994540

 

 

Tôm sú các loại

1219,7

11025594

3768,8

33614693

4648,4

37236652

947,9

8205664

Tôm thẻ

36,6

214473

1708,1

7441202

3607,3

15136523

 

 

Cá đông lạnh các loại

1805,2

2058067

2635,2

3571436

6808,9

10208757

 

 

Cá ba sa

248,8

533771

419,2

888782

336,7

563115

 

 

Cá bò

710,7

2022952

753

1262387

1256,1

1846285

 

 

Cá hồi

186,5

281498

709,8

1173550

 

 

1.086,0

1717466

Cá khô các loại

115,3

290746

100,6

203240

 

 

 

 

Cá lư­ỡi trâu đông lạnh

33,3

44294

90,5

143659

 

 

 

 

Cá Mối

64,3

21831

216,5

93970

 

 

0,5

192

Cá mú đông lạnh

2,3

3300

16,7

31252

 

 

 

 

Cá mú sống

128,7

65938

 

 

 

 

 

 

Cá Mòi

 

 

 

 

470,4

1592937

27,5

93232

Cá ngừ đông lạnh

171,6

130726

1487,7

1922162

6209,9

8190528

216,5

243428

Cá nục

83

79403

224,3

57415

 

 

2,2

2424

Cá thu đông lạnh

 

 

141,4

170417

238,3

292237

 

 

Bạch tuộc đông lạnh

120

195991

223

453992

408,2

558294

2,0

3900

Mực đông lạnh các loại

848

1017425

701,1

1448022

367,6

741012

 

 

Ghẹ các loại

75,2

386824

160,9

531457

144,1

409090

 

 

Cua các loại

277,3

1470052

1603,9

4086310

486,5

4007334

 

 

Cua lột

 

 

 

 

 

 

0,8

3672

Râu mực

15,2

9880

 

 

 

 

 

 

Fillet đông lạnh các loại

110,2

418938

 

 

 

 

 

 

Lư­ơn các loại

1

598

 

 

 

 

 

 

Mực khô các loại

10,5

130360

0,4

1000

 

 

 

 

Nghêu đông lạnh

98,3

171286

152,5

268086

48,9

95599

9,7

17678

Thịt ốc

30,5

100416

78,6

209474

 

 

 

 

Thịt sò

82,5

259085

182,7

191698

 

 

 

 

Trứng cá

2,9

125560

137

1370843

592,1

2805302

10,5

67633

Trứng cá Hồi

 

 

 

 

 

 

0,1

2636

Vi Cá

28,8

113035

11,2

20116

 

 

 

 

Vẹm

 

 

 

 

 

 

2,9

13304

Chả cá

79,8

213334

58,6

89811

104,2

115468

 

 

Hải sản các loại

1235,3

2701943

749,9

2535163

949,2

2777811

25.902,6

73343342

Bột vỏ cua

 

 

3,8

29961

3,3

27570

 

 

Tôm giống

 

 

6,3

126027

 

 

 

 

Cá giống

 

 

36,9

126554

 

 

 

 

Tổng số

9453,4

36020079

21576,8

92676735

29.419,7

101281417

41.929,8

169454463

 (Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản)


 

B.3.2.3 Nguồn nhập khẩu

Việt Nam nhập khẩu thuỷ sản từ nhiều nguồn, song chủ yếu là từ các nước và vùng lãnh thổ ở châu Á. Trong đó, Inđônêxia là nước cung cấp đứng đầu, thường xuyên chiếm khoảng 1/4 tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Các nhà nhập khẩu của Việt Nam đã rất năng động tìm kiếm các nguồn cung cấp từ khắp nơi trên thế giới các mặt hàng cần thiết với giá hợp lý nhất, do vậy danh sách các nhà cung cấp liên tục tăng, đến nay đã lên tới khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ ở khắp các châu lục.

 

Bảng 23: Nguồn nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam

 

2001

2002

2003

2004

Thị tru­ờng

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

In-đô-nê-xia

2.292,2

11.058.827

4.709,4

31.848.827

6.623,1

32.972.213

8.462,8

46.336.740

Trung Quốc

30,9

11.142

4.263,2

18.769.407

6.130,7

17.780.072

6.817,9

25.221.079

Nhật Bản

1.064,7

5.572.026

1.916,1

7.521.654

2.680,4

11.582.515

4.378,3

21.514.714

Malaixia

415,4

2.522.519

712,8

3.710.906

907,8

6.024.039

869,9

13.381.827

Mỹ

441,7

2.761.337

1.097,5

4.697.472

1.002,3

4.946.236

1.135,1

8.249.037

Đài Loan

716,5

1.382.947

2.514,2

3.582.553

4.501,2

6.127.252

5.732,1

7.838.719

Thái Lan

1.142,2

1.317.529

342,4

453.613

1.746,1

2.889.305

3.453,3

7.507.126

Canada

497,1

1.825.734

534,7

3.086.458

508,8

3.287.003

908,8

4.793.921

Mianma

 

 

275,5

366.435

592,7

3.031.133

425,3

3.551.007

Singapo

258,3

980.383

325,8

587.788

626,6

2.046.225

523,1

3.256.084

Triều Tiên

1.189,8

3.890.873

683,3

1.827.375

726,7

1.865.762

504,7

1.923.306

Thị trư­ờng khác

1.405,0

4.696.762

4.201,6

16.224.247

3.447,3

9.000.440

8.718,5

25.914.203

Tổng số

9.453,8

36.020.079

21.576,5

92.676.735

29.493,7

101.552.195

41.929,8

169.487.763

 

Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản

Bảng 24: Nhập khẩu thuỷ sản từ Inđônêxia

Mặt hàng

2001

2002

2003

2004

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng

(Tấn)

Kim ngạch (USD)

Tôm đông lạnh

640,3

5.030.247

831,6

6.107.400

409,8

3.014.219

4.728,6

34.983.552

Tôm Sắt

 

 

25,5

81.147

 

 

 

 

Tôm sú các loại

561,5

5.060.384

2.717,8

24.064.556

3.146,0

24.150.164

647,7

5.733.240

Tôm thẻ

14,0

77.471

1,6

5.142

557,5

2.967.436

 

 

Bạch tuộc đông lạnh

43,5

55.081

 

 

202,0

167.287

 

 

Mực đông lạnh

313,0

353.640

177,2

205.115

25,0

32.588

 

 

Cá đông lạnh

604,9

319.665

280,1

345.620

710,4

760.378

 

 

Cá ba sa

1,5

3.074

 

 

 

 

 

 

Cá bò

72,5

115.135

323,4

354.111

40,1

41.055

 

 

Cá khô các loại

28,9

14.430

 

 

 

 

 

 

Cá lư­ỡi trâu đông lạnh

 

 

72,5

78.047

 

 

 

 

Cá ngừ đông lạnh

 

 

173,5

233.923

1.446,5

1.701.253

117,4

52.814

Ghẹ các loại

 

 

51,2

131.293

17,4

32.826

 

 

Thịt sò

 

 

47,8

78.803

 

 

 

 

Chả cá

 

 

 

 

7,9

25.988

 

 

Trứng cá

 

 

7,1

163.670

 

 

 

 

Hải sản các loại

12,0

29.700

 

 

60,0

76.460

2.969,1

5.567.134

Tổng số

2.292,1

11.058.827

4.709,3

31.848.827

6.622,6

32.969.654

8.462,8

46.336.740

 

Nhập khẩu từ Nhật Bản

Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản chủ yếu là các mặt hàng thuỷ sản nguyên liệu để chế biến thuỷ sản giá trị gia tăng rồi tái xuất khẩu trở lại chính thị trường này. Nhập khẩu thuỷ sản từ Nhật đã tăng mạnh trong mấy năm trở lại đây, năm 2004 đạt 21,5 triệu USD. Nhóm mặt hàng có khối lượng nhập khẩu cao nhất là tôm đông lạnh, trong đó bao gồm cả tôm sú, tôm thẻ, tôm sắt. Mặt hàng có giá trị nhập khẩu lớn thứ 2 là cá đông lạnh, trong đó chủ yếu là cá hồi. Ngoài ra còn rất nhiều mặt hàng thuỷ sản khác như trứng cá, thịt ốc, chả cá…

Bảng 25: Nhập khẩu thuỷ sản từ Nhật Bản vào Việt Nam

Mặt hàng

2001

2002

2003

2004

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng  (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Số lượng (Tấn)

Kim ngạch (USD)

Tôm đông lạnh

307,8

1.904.605

268,3

1.252.051

274,1

1.845.293

871,3

6.350.964

Tôm giống

 

 

2,2

22.884

 

 

 

 

Tôm Sắt

 

 

 

 

130,9

717.020

 

 

Tôm sú các loại

149,0

1.669.283

121,6

1.498.256

178,5

2.107.783

44,4

435.101

Tôm thẻ

 

 

14,4

59.868

79,0

567.339

 

 

Bạch tuộc đông lạnh

17,7

52.239

75,7

131.578

9,0

72.502

2,0

3.900

Cá đông lạnh

184,7

237.516

83,3

76.872

710,1

1.859.649

 

 

Cá bò

 

 

31,8

68.990

23,0

62.100

 

 

Cá hồi

62,2

112.158

420,5

487.275

 

 

298,0

441.008

Cá khô các loại

 

 

17,6

91.740

 

 

 

 

Cá Mối

 

 

9,7

8.211

 

 

 

 

Cá mú đông lạnh

2,3

3.300

 

 

 

 

 

 

Cá Mòi

 

 

 

 

140,7

435.659

23,5

79.451

Cá ngừ đông lạnh

15,0

29.410

118,2

75.647

415,2

477.755

 

 

Cá nục

 

 

 

 

 

 

0,0

36

Thuỷ sản khác

 

 

 

 

 

 

3,6

16.168

Chả cá

19,0

43.560

6,0

26.601

0,8

488

 

 

Cua các loại

 

 

107,3

522.859

33,0

424.237

 

 

Fillet đông lạnh

24,0

98.400

 

 

 

 

 

 

Ghẹ các loại

3,7

31.888

1,8

14.532

 

 

 

 

Hải sản các loại

186,4

1.149.891

380,0