Số lượt truy cập:   575031
Các quy định pháp lý và các cơ q

THÔNG TIN CHUNG

A.2.     Dân số và dân cư

A.2.1. Dân số

Bảng 1: Số liệu về diện tích và dân số Việt Nam 

 

Dân số trung bình (Nghìn người)

Diện tích

( km2)

Mật độ dân số

(Người/ km2)

Cả nước

83.119,9

329.314,5

252

Hà Nội

3.145,3

921,0

3.415

Tp. Hồ Chí Minh

5.891,1

2.095,2

2.812

(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2005)

 Theo số liệu thống kê năm 2005, Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới với 83.119.900 người với các đặc điểm dân cư như sau: 

Đặc điểm

Tỷ lệ (%)

Dân cư sống ở thành thị

27%

Dân cư sống ở thành thị

73%

Mức tăng dân số hàng năm

1,18%

Tỷ lệ nam/ nữ

51%/49%

Chỉ số phát triển con người (HDI)

xếp thứ 108/177 nước

Tuổi thọ trung bình

71 tuổi

Tỷ lệ hộ đói nghèo

7%

 Các thành phố đông dân nhất Việt Nam là thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội. Hầu hết các thành phố trên cả nước đang trong xu hướng đô thị hóa cao, do đó, dân số tại khu vực này sẽ ngày một tăng nhanh. 

Cấu trúc về độ tuổi

Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi tiếp tục giảm trong khi tỷ lệ người già từ 60 tuổi trở lên tăng nhẹ từ 13,4% năm 1989 lên 13,9% vào năm 2005.

Tỷ lệ nam/nữ của cả nước chỉ tăng 2% trong vòng 20 năm qua nhưng cả nước đã có tới 16 tỉnh, thành phố có tỷ lệ giới tính cao đến mức báo động, từ 115-128 bé trai/100 bé gái.

A.2.2. Lao động

Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động.

Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể như sau:

Tổng số lao động xã hội

1990

1995

2000

2005

Trong ngành nông, lâm và ngư nghiệp

73,00%

71,10%

68,20%

56,80%

Trong ngành công nghiệp

11,24%

11,40%

12,10%

17,90%

Trong các ngành dịch vụ

15,56%

17,50%

19,70%

25,30%

A.2.3. Dân tộc

Việt Nam là một quốc gia của 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86% dân số; 53 dân tộc còn lại có số lượng dao động trên dưới một triệu người như Tày, Nùng, Thái, Mường, Khmer cho đến vài trăm người như dân tộc Ơ Đu và Brâu. Dân tộc Kinh sống rải rác ở trên khắp lãnh thổ, nhưng tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu thổ các con sông.  

Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều. Ở trung du và miền núi phía bắc, các cư dân ở vùng thấp như Mường, Thái, Tày, Nùng sinh sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước và nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, có một phần hái lượm, săn bắn, có nghề thủ công khá tinh xảo. Các dân tộc thiểu số ở phía Nam sống biệt lập hơn. Trừ người Chăm, Hoa và Khmer sống ở vùng duyên hải miền Trung, Nam Bộ có trình độ phát triển cao hơn, phần lớn các dân tộc còn lại ở Tây Nguyên sống theo tổ chức buôn-làng, kiếm sống dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp. Tất cả các nhóm dân tộc đều có nền văn hóa riêng biệt và độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng khác biệt. 

Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói nghèo, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, tăng cường sự giúp đỡ của trung ương và các địa phương khác trong cả nước.

A.2.4. Ngôn ngữ

54 dân tộc sinh sống tại Việt Nam có ngôn ngữ riêng và nền văn hóa truyền thống đặc sắc của mình. 24 dân tộc có chữ viết riêng như tiếng Thái, Mông, Tày, Nùng, Khmer, Gia Rai, Ê đê, Hoa, Chăm… Chữ viết của 8 dân tộc thiểu số như Thái, Hoa, Khmer, Chăm, Ê-đê, Tày-Nùng, Cơ ho và chữ Lào được sử dụng trong các trường học. 

Trong quá trình phát triển, tiếng Việt được chọn là ngôn ngữ chung cho các dân tộc. Trong hệ thống giáo dục từ mẫu giáo đến bậc đại học, tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, là công cụ để truyền thụ kiến thức; đồng thời cũng là công cụ giao tiếp, quản lý Nhà nước của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.

A.2.5. Tôn giáo

Việt Nam thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Trong số 6 tôn giáo lớn thì Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo và đạo Tin Lành là những tôn giáo ngoại nhập, còn đạo Cao Đài và đạo Hoà Hoả là tôn giáo nội sinh.

Phật Giáo xuất hiện từ đầu Công Nguyên, là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam. Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 và là tôn giáo lớn thứ hai sau Phật Giáo.

A.2.6. Giáo dục

Hiện nay, cả nước có  khoảng 22 triệu học sinh, trong đó có 13,2 triệu học sinh tiểu học (chiếm 58%), 4,3 triệu học sinh trung học và 260.000 sinh viên cao đẳng và đại học.

Tỉ lệ biết chữ ở Việt Nam tương đối cao (92% dân số). Trong số 8% dân số mù chữ thì 80% sống ở vùng nông thôn, trong đó 60% là phụ nữ.

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang