Số lượt truy cập:   573591
Các quy định pháp lý và các cơ q

NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

B.2. Các hoạt động của ngành thủy sản

B.2.1. Khai thác thủy sản

Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004, Việt Nam đứng thứ 11 trên thế giới về sản lượng khai thác thuỷ sản. Cụ thể như sau:

STT

Quốc gia

Sản lượng (Tấn)

 

Thế giới

 

01

Trung Quốc

16.892.793

02

Pêru

9.613.180

03

Mỹ

4.959.826

04

Inđônêxia

4.811.320

05

Nhật

4.401.341

06

Ấn Độ

3.615.724

07

Liên bang Nga

2.941.533

08

Thái Lan

2.845.088

09

Nauy

2.522.225

10

Philipin

2.211.570

11

Việt Nam

1.879.488

 

                        B.2.1.1. Khai thác hải sản

Khai thác hải sản luôn giữ vai trò quan trọng trong ngành thủy sản, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển.

    a. Năng lực khai thác hải sản

- Tàu thuyền đánh cá

Tàu thuyền khai thác phần lớn là loại vỏ gỗ. Các loại tàu vỏ thép, xi măng lưới thép, composite chiếm tỷ lệ không đáng kể. Những năm gần đây, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, trong khi đó, thuyền thủ công giảm dần. Năm 2001, tổng số thuyền máy là 74.495 chiếc và thuyền thủ công là 13.267 chiếc, chiếm tỷ lệ tương ứng là 85% và 15% tổng số tàu thuyền khai thác hải sản. Tổng công suất tàu thuyền máy đã đạt tới 3.497.457 CV (năm 2001), lớn gấp 4,3 lần so với năm 1991, công suất bình quân đạt gần 45CV/chiếc, tăng 2,5 lần so với 1991. Năm 2004, theo báo cáo từ các địa phương, tổng số tàu thuyền máy đã tăng lên đến 85.430 chiếc với tổng công suất 4.721.700 CV, công suất bình quân đạt hơn 55 CV/tàu. Công suất trung bình các đội tàu ở phía Nam đạt trên 90 CV/tàu và các vùng còn lại là 30 CV/tàu. Đáng chú ý là, số lượng tàu quốc doanh đã giảm còn 44 tàu vào năm 2002.

Trong giai đoạn 1991 - 2004, số lượng tàu thuyền máy tăng bình quân hằng năm 5,6%, nhưng mức tăng này có xu hướng chậm dần. Trong khi đó, mức tăng tổng công suất trung bình hằng năm là 15,8 %, chiều hướng này cũng đang giảm dần. Sự chênh lệch mức tăng giữa số lượng tàu và tổng công suất trong giai đoạn này cho thấy, trong số tàu tăng hằng năm, số tàu công suất lớn chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là xu thế tích cực khi người dân chú trọng đóng tàu vươn khơi xa, giảm dần áp lực khai thác vùng ven bờ. Chủ trương phát triển khai thác xa bờ, ổn định khai thác vùng gần bờ của ngành thủy sản thực hiện trong nhiều năm qua cũng đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ ngư dân tham gia phát triển khai thác xa bờ. Trong những năm gần đây, trước áp lực nguồn lợi ven bờ suy giảm, các cơ quan quản lý ngành thủy sản đã có chủ trương hạn chế đóng mới các loại tàu thuyền dưới 20 CV. Do vậy, số lượng tàu nhỏ khai thác gần bờ đã giảm nhiều. Chủ trương chuyển đổi cơ cấu nghề nghề cá, trong đó có  chuyển đổi từ khai thác gần bờ sang khai thác xa bờ, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thủy sản gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường đã được triển khai ở nhiều địa phương và được người dân ủng hộ..

- Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản

Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Việt Nam hiện có trên 20 loại nghề khai thác hải sản được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu với tỷ lệ các nhóm nghề năm 2000 như sau:

1

Lưới rê

24,5%

2

Lưới kéo

22,5%

3

Câu

19,7%

4

Lưới vây

7,7%

5

Mành, vó

7,8%

6

Lưới cố định

7,5%

7

Các nghề khác

10,3%

 

Do đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi hải sản ở các vùng biển khác nhau nên cơ cấu nghề nghiệp ở từng địa phương cũng khác nhau.

+ Nghề lưới kéo chiếm tỷ lệ cao nhất ở các tỉnh Nam Bộ (37,5%), trong đó tỷ lệ này ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng là 47%, Kiên Giang chiếm 41,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 38,5%. Đây là do đặc điểm nguồn lợi ở vùng biển Đông Nam Bộ (cá đáy chiếm 60% khả năng khai thác).

+ Nghề lưới rê ở các tỉnh Bắc Bộ chiếm 26% tổng số đơn vị nghề và ở các tỉnh Bắc Trung Bộ chiếm 29,3% là phù hợp với nguồn lợi ở vịnh Bắc Bộ (cá nổi chiếm 57% khả năng khai thác).

+ Nghề ngư cụ cố định trong đó chủ yếu là nghề đáy, tập trung ở các tỉnh có nhiều cửa sông. Ví dụ : Trà Vinh 55%, Huế 31%, Tiền Giang 16%, thành phố Hồ Chí Minh 13%, Cà Mau 10%.

   + Nghề đáy cao tại một số tỉnh đã có tác động xấu đến bảo vệ nguồn lợi, vì đối tượng đánh bắt chủ yếu là các đàn cá chưa trưởng thành thường vào vùng cửa sông kiếm ăn.

- Lao động trong khai thác hải sản

Năm 2004, lực lượng lao động khai thác hải sản xấp xỉ 600.000 người. Phần lớn đều có kinh nghiệm đi biển, thành thạo nghề, chịu được sóng gió. Tuy nhiên, thanh niên vùng ven biển đang có xu hướng không muốn theo nghề khai thác, vì cường độ lao động cao, năng suất đánh bắt thấp và thu nhập giảm. Việc đẩy mạnh khai thác xa bờ đang gặp khó khăn về nguồn nhân lực. Đội ngũ thuyền trưởng, thuỷ thủ giỏi, có trình độ và kỹ thuật khai thác xa bờ rất thiếu, nhất là các tỉnh Bắc Bộ và Nam Bộ, dẫn tới nhiều nơi tàu đã đóng xong nhưng không tuyển được người có đủ trình độ ra khơi.

    b. Sản lượng khai thác hải sản

Tổng sản lượng hải sản khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục, với tốc độ tăng bình quân khoảng 9%/năm. Năm 2004, sản lượng khai thác hải sản tăng mạnh, đạt 1.724.200 tấn, tốc độ tăng bình quân 8%/năm.

Bảng 8: Cơ cấu sản lượng khai thác hải sản theo vùng lãnh thổ

Vùng

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2004

Sản lượng (tấn)

%

Sản lượng

(tấn)

%

Sản lượng

(tấn)

%

Bắc Bộ

74.825

5,1

85.410

5,6

116.304

6,7

Bắc Trung Bộ

131.710

9,1

133.220

8,7

159.540

9,3

Nam Trung Bộ

448.550

30,8

463.600

30,4

540.445

31,3

Đông Nam Bộ

154.400

10,6

166.680

10,9

210.453

12,2

Tây Nam Bộ

641.299

44,1

670.780

44,1

697.464

40,5

Quốc doanh TW

4.000

0,3

4.000

0,3

 

 

Cả nước

1.454.784

100,0

1.523.690

100,0

1.724.206

100,0

  

                     B.2.1.2. Khai thác thủy sản nội địa

                           a. Khai thác ở hồ

Việt Nam có trên 200.000 ha mặt nước hồ, trong đó diện tích hồ tự nhiên trên 20.000 ha, còn lại là hồ chứa.

Tổng sản lượng thủy sản khai thác ở hồ hằng năm khoảng 9.000 tấn, trong đó 4.000 tấn khai thác ở hồ tự nhiên và 5.000 tấn khai thác ở các hồ chứa.

                          b. Khai thác ở vùng trũng ngập nước

Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ không có vùng trũng ngập nước lớn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều vùng ngập nước theo mùa rất lớn. Ví dụ, vùng đồng Tháp Mười là 140.000 ha và vùng tứ giác Long Xuyên là 218.000 ha.

Cá ở hệ thống sông Cửu Long di cư vào vùng trũng ngập nước trong mùa mưa để kiếm ăn. Đến mùa khô lại di chuyển ra sông. Nông dân ở hai vùng trũng ngập nước này hằng năm khai thác được khoảng trên 20.000 tấn.

                           c. Khai thác trên sông

Nước ta có hàng ngàn sông, rạch. Trước đây, nguồn lợi cá sông rất phong phú. Vào thập kỷ 70, trên sông Hồng có trên 70 hợp tác xã đánh cá. Sản lượng khai thác hằng năm khoảng hàng ngàn tấn cá. Do khai thác quá mức, nên nguồn cá sông đã cạn kiệt. Ngư dân phải chuyển sang kiếm sống bằng nghề khác. Các sông ngòi ở miền Trung cũng có tình trạng tương tự.

Hiện nay, chỉ còn sông Cửu Long duy trì được nghề khai thác với sản lượng xấp xỉ 30.000 tấn/năm, tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã ven sông. Hệ thống kênh, rạch chằng chịt ở Nam Bộ cung cấp một lượng cá nước ngọt đáng kể.

Sản lượng khai thác thủy sản nội địa năm 2003 và năm 2004 đã đạt khoảng 200.000 tấn, thu hút khoảng 100.000 lao động.

B.2.1.3. Quá trình phát triển khai thác thuỷ sản của Việt Nam

a. Trước năm 1980

Nghề đánh bắt thuỷ sản đã hình thành từ cách đây hàng ngàn năm. Thời kỳ sơ khai, người dân đã đánh bắt cá ở các đầm, ao, hồ, dọc các cửa sông bằng những dụng cụ thô sô như lao, xiên, bẫy, sau đó di chuyển dọc các sông, hướng dần ra biển để khai thác hải sản ở vùng ven biển.

Đến nửa đầu thế kỷ 20, khai thác thuỷ sản vẫn ở trình độ thấp, sử dụng những ngư cụ lạc hậu. Phương tiện chủ yếu vẫn là bè, mảng, thuyền gỗ nhỏ, sau dần dần phát triển lên thuyền buồm, thuyền buồm lắp máy. Tuy nhiên, tàu thuyền máy còn rất ít, sử dụng các trang thiết bị thô sơ. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, số lượng tàu thuyền và sản lượng khai thác ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng.

Trong những năm 1954-1960, phong trào hợp tác hoá nghề cá ở miền Bắc phát triển mạnh. Cuối năm 1960, 80% số hộ ngư dân đã tham gia hợp tác xã đánh cá và đến năm 1964 là 97%. Kỹ thuật khai thác được cải tiến, nghề kéo đôi và vây rút chì phát triển mạnh trong thời kỳ này, lưới nylon lần đầu tiên nhập vào Việt Nam để dần thay thế lưới dây gai, lưới sợi bông.

Nhờ có sự hỗ trợ của Liên Xô và các nước XHCN cũ, các tập đoàn đánh cá biển đã hình thành. Sự ra đời của Nhà máy Đồ hộp Hạ Long và Đoàn tàu đánh cá Hạ Long đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá nghề cá Việt Nam.

Trong những năm 1964 (thời kỳ chiến tranh ở miền Bắc), cơ sở hạ tầng nghề cá của Việt Nam lúc này chỉ là một vài cảng nhỏ do Nhà nước xây dựng, phục vụ mục đích khai thác và bảo vệ Tổ quốc.

Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nghề cá miền Nam ở trong tình trạng lộn xộn và gặp nhiều khó khăn. Đảng và Nhà nước đã quyết định thống nhất quản lý Ngành Thuỷ sản. Bộ Hải sản được thành lập để thực hiện hai nhiệm vụ lớn : Củng cố, phát triển nghề cá phía Bắc; Cải tạo, xây dựng và phát triển nghề cá phía Nam. Tuy nhiên, do tập trung khắc phục nhiều vấn đề tồn tại, nên đến năm 1980, hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngành Thuỷ sản vẫn còn kém hiệu quả.

b. Từ năm 1981 đến nay

Năm 1981, Bộ Hải sản được đổi thành Bộ Thuỷ sản với phạm vi và nội dung quản lý rộng hơn, toàn diện hơn. Ngành Thuỷ sản nhanh chóng thay đổi cách quản lý từ hành chính bao cấp chuyển sang quản lý kinh doanh với phương châm "tự cân đối, tự trang trải, thực hiện trả lương theo sản phẩm, định mức khoán sản phẩm cho từng chuyến biển". Nhờ đó đã phát huy được tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân viên và ngư dân. Cùng với việc cải tiến kỹ thuật khai thác, Ngành Thuỷ sản còn du nhập thêm một số nghề mới năng suất cao, chất lượng tốt như câu vàng, lưới vây kết hợp ánh sáng…. Sản lượng khai thác tăng nhanh, tỷ trọng các loài có giá trị kinh tế cao cũng tăng lên đáng kể. Nếu như năm 1981, sản lượng khai thác hải sản mới đạt mức 416.000 tấn và xuất khẩu xấp xỉ 20 triệu USD, thì đến năm 2005, sản lượng đạt xấp xỉ 1,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,6 tỷ USD. Như vậy, sau 24 năm nỗ lực phấn đấu, sản lượng thủy sản khai thác của Việt Nam đã tăng 4,3 lần, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 130 lần. Với đà phát triển đó, Ngành Thuỷ sản liên tục đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch.

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều hộ ngư dân đã có phương tiện đánh bắt, thậm chí một số hộ còn làm chủ nhiều phương tiện khai thác. Các thành phần kinh tế như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn cũng đã tham gia hoạt động khai thác hải sản.

c. Hướng đến nghề cá bền vững

Với sự gia tăng liên tục cường lực khai thác, đến nay khai thác ven bờ đã vượt quá mức cho phép. Năm 1997, ngành thủy sản Việt Nam đã triển khai chủ trương cho dân vay vốn ưu đãi để cải hoán, đóng mới tàu đánh bắt hải sản xa bờ. Nhờ đó, năng lực khai thác xa bờ đã tăng lên đáng kể. Từ nguồn vốn vay ưu đãi 1.345 tỷ đồng, đã có 1.382 chiếc tàu được đóng mới. Bên cạnh đó, ngư dân còn tự bỏ vốn hoặc vay từ các nguồn tín dụng khác để đóng hơn 4.000 chiếc, đưa tổng số tàu khai thác hải sản xa bờ lên 6.500 chiếc. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác thủy sản đã được ứng dụng, một số nghề mới như nghề câu cá ngừ đại dương, tời thu lưới vây, lồng bẫy, lưới kéo có mắt lưới lớn… đã có cơ hội phát triển. Tỷ trọng sản lượng hải sản xa bờ trong tổng sản lượng thủy sản khai thác ngày một tăng, từ 33.000 tấn năm 1997 đã tăng lên 460.000 tấn năm 2003.

Phát triển khai thác hải sản xa bờ đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu nghề cá, giảm áp lực khai thác vùng gần bờ, tạo việc làm cho hơn 60.000 lao động, đồng thời hạn chế các tàu thuyền nước ngoài vào khai thác hải sản trái phép ở vùng biển Việt Nam, góp phần bảo vệ an ninh trên biển và chủ quyền vùng biển quốc gia.

Năm 2003, Luật Thuỷ sản được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ tháng 7/2004. Bộ Thuỷ sản cũng đã xây dựng chiến lược phát triển khai thác thuỷ sản đến năm 2010 và tầm nhìn 2015 theo hướng bền vững, trong đó nhấn mạnh:

+ Duy trì mức khai thác tối đa 1,5 triệu tấn hải sản/năm

+ Phân vùng đánh bắt, phân công quản lý, hình thành các cộng đồng đánh bắt, tổ hợp tác và hợp tác xã khai thác hải sản làm cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất

+ Quy hoạch, xây dựng các làng cá

+ Đầu tư xây dựng cảng cá, chợ cá, khu trú đậu tàu thuyền

+ Điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp và năng lực khai thác ở từng vùng biển

+ Áp dụng Bộ quy tắc ứng xử đối với nghề cá có trách nhiệm của FAO

+ Thiết lập hệ thống thống kê nghề cá

+ Hoàn chỉnh điều tra nguồn lợi hải sản làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển thủy sản.

Với những thành công trong những thập kỷ qua, hy vọng rằng, ngành khai thác thuỷ sản sẽ có bước phát triển tốt và bền vững trong thế kỷ XXI.

d. Kế hoạch 2010 - 2020

- Tiếp tục khai thác ven bờ theo hướng ổn định sản lượng gắn với bảo vệ môi trường, nguồn lợi thuỷ sản; đồng thời, nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác ven bờ sang nghề khai thác xa bờ; Quản lý chặt chẽ việc đóng mới, cấp giấy phép khai thác để giảm dần số tàu nhỏ khai thác ven bờ, duy trì và củng cố số tàu lớn khai thác xa bờ.

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học – công nghệ, lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài phù hợp với điều kiện nghề cá nước ta, nhằm tạo bước phát triển nhanh, hiệu quả nghề khai thác xa bờ.

- Phát triển quan hệ sản xuất theo mô hình kinh tế tập thể, trong đó khuyến khích phát triển tổ hợp tác khai thác nhằm tập trung các nguồn vốn, tạo khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn, tăng sức cạnh tranh; Tổ chức các đội tàu theo nghề để khai thác có hiệu quả và giúp nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

- Các tỉnh khu vực phía Bắc cần nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu nghề cá hợp lý để khai thác có hiệu quả các ngư trường khai thác trọng điểm và tham gia khai thác trong vùng đánh cá chung theo Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ. Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, vùng đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long cần tăng cường đầu tư để phát triển khai thác xa bờ, đầu tư củng cố, nâng cấp và phát triển hợp lý đội tàu khai thác xa bờ.

Mục tiêu đến năm 2010 :

- Sản lượng khai thác hải sản đạt 1,5 – 1,8 triệu tấn, trong đó, Vịnh Bắc Bộ 0,27 triệu tấn, vùng biển miền Trung 0,37 triệu tấn, vùng biển Đông Nam Bộ 0,71 triệu tấn, vùng biển Tây Nam Bộ 0,2 triệu tấn, vùng giữa biển Đông và hợp tác khai thác vùng biển quốc tế 0,25 triệu tấn;

- Sản lượng khai thác nội địa đạt 0,2 triệu tấn;

- Số lượng tàu thuyền đánh các là 50.000 chiếc (trong đó, 6.000 chiếc có công suất trên 75 CV, 14.000 chiếc có công suất từ 46 - 75 CV, 20.000 chiếc có công suất từ 21 - 45 CV, 10.000  chiếc có công suất từ 20 CV trở xuống);

- Lao động đánh cá là 0,5 triệu người.

 

    B.2.2. Nuôi trồng thủy sản

Với điện kiện tự nhiên thuận lợi, nuôi trồng thủy sản là một thế mạnh của Việt Nam. Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản.

Bảng 9: Sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất của 3 quốc gia trên thế giới
                                                                                                                 (Đơn vị: Tấn)

STT

Quốc gia

Sản lượng

 

Thế giới

 

01

Trung Quốc

30.614.968

02

Ấn Độ

2.472.335

03

Việt Nam

1.198.617

(Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004)

- Đối tượng nuôi:

Đến nay, tôm, nhất là tôm sú, vẫn được coi là đối tượng nuôi chủ lực và có sức hấp dẫn mạnh nhất. Tôm được nuôi ở khắp các tỉnh ven biển trong cả nước. Trong nuôi thuỷ sản mặn, lợ, tôm là đối tượng mang lại giá trị xuất khẩu cao nhất. Ngoài ra, phải kể đến các loài nhuyễn thể được coi là một đối tượng nuôi đầy triển vọng, vừa mang lại khối lượng hàng hoá lớn, vừa có lãi suất cao. 

- Hình thức nuôi:

Nuôi trồng thủy sản có nhiều tiềm năng để phát triển, có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế, xã hội và môi trường. Đó là khả năng mở rộng diện tích canh tác, đa dạng hoá đối tượng nuôi, nuôi hải sản trong các ao dùng vật liệu chống thấm, nuôi tôm sú trong nước ngọt,...

+ Nuôi biển đang là một hướng mở mới cho Ngành Thuỷ sản. Các hình thức nuôi lồng, bè trên biển với các đối tượng nuôi như tôm hùm, cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc... là tiền đề ban đầu để đẩy mạnh nghề nuôi biển trong thời gian tới.

+ Nuôi thuỷ sản nước ngọt đang phát triển rất mạnh. Từ sản xuất nhỏ tự túc, nuôi nước ngọt đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, đặc biệt trong nhiều năm gần đây, nghề nuôi cá tra, cá basa đã trở thành một lĩnh vực sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị xuất khẩu lớn. Ngoài ra, nuôi các đối tượng đặc sản có giá trị kinh tế cao như baba, cá bống tượng, tôm càng xanh, cá sấu, lươn, ếch... cũng được mở rộng đã làm tăng giá trị kinh tế của các mô hình nuôi nước ngọt.

+ Nuôi thuỷ sản cũng đã phát triển tới tận các vùng sâu, vùng xa, không chỉ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm, mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo. Nhiều trang trại nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt chuyên canh hoặc canh tác tổng hợp trong đó nuôi trồng thuỷ sản là chính đã, đang được hình thành và phát triển rộng khắp, góp phần vào tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.

Bảng 10: Diện tích các loại hình mặt nước nuôi trồng thủy

Loại hình

mặt nước

Diện tích

có khả

năng (ha)

Diện tích đã nuôi

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2004

DT

 (ha)

Tỷ lệ sử

dụng so

với tiềm

năng (%)

DT

(ha)

Tỷ lệ sử

dụng so

với tiềm

năng (%)

DT

 (ha)

Tỷ lệ sử

dụng so

với tiềm

năng (%)

1. Nước ngọt

913.271

310.383

34

410.537

45

335.760

37

Ao, hồ nhỏ

144.551

113.982

79

101.648

70

 

 

Mặt nước lớn

244.361

84.478

35

38.570

16

 

 

Ruộng trũng

446.151

99.697

22

239.379

54

 

 

Khác

78.208

12.226

16

29.103

37

 

 

2.  Mặn lợ

965.063

341.730

35

584.564

61

619.589

64

Vùng triều

873.083

337.624

39

577.392

66

 

 

Eo vịnh

91.980

4.106

4

7.152

8

 

 

3. Đất cát

ven biển

20.000

-

 

22

0

4.559

23

Tổng số

1.898.334

652.113

34

993.264

52

959.908

51

- Diện tích nuôi

Giai đoạn 2001 - 2004, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản giữ ở mức ổn định. Tuy nhiên, cơ cấu diện tích có sự thay đổi. Diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ vẫn tiếp tục tăng, nhưng đã chậm lại, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt có xu hướng giảm do nhiều ao, hồ nhỏ bị san lấp cho mục đích xây dựng.

- Thực trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản

   + Vùng trung du miền núi phía Bắc (gồm 14 tỉnh, trong đó có 11 tỉnh Đông Bắc là Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang và Quảng Ninh; và 3 tỉnh Tây Bắc là Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu) có điều kiện sinh thái thích hợp với nuôi trồng các giống loài thuỷ sản cận nhiệt đới, ôn đới dòng Trung Hoa. Các diện tích hồ chứa, hồ tự nhiên, ao, hồ nhỏ phù hợp với các loại hình nuôi quảng canh, bán thâm canh, nuôi lồng bè trên sông và hồ chứa cũng như nuôi nước chảy.         

   + Vùng đồng bằng sông Hồng (gồm Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình) có các vùng bãi bồi màu mỡ, đặc biệt thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ. Có hai khu vực thuận lợi cho nuôi trồng hải sản là ven biển Thái Bình và Nam Định thuộc cửa sông Ninh Cơ. Các hệ thống kênh mương dẫn nước ngọt nội đồng và tiêu úng rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Khả năng phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản vùng triều khoảng 58.800 ha, bằng 9,54% diện tích tự nhiên của toàn vùng và vùng nước ngọt nội địa khoảng 126.500 ha, bằng 8,48% diện tích tự nhiên toàn vùng. Ngoài ra, còn có các vùng vịnh kín gió dọc bờ biển, khoảng 39.700 ha.   

   + Vùng Bắc Trung Bộ (gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế) có diện tích nuôi trồng thuỷ sản không lớn. Diện tích vùng triều khoảng 52.000 ha, bằng 1% diện tích tự nhiên của vùng, diện tích các vùng nước ngọt nội địa trên 80.000 ha (trong đó có 18.500 ha ao hồ nhỏ, 24.500 ha mặt nước lớn, 24.700 ha ruộng trũng). Tổng diện tích vùng biển kín lớn ở Tĩnh Gia (Thanh Hoá) và vùng đầm phá ở Thừa Thiên-Huế là 37.600 ha.

   + Duyên hải Nam Trung Bộ (gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận) có khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản, nhất là các loài thuỷ sản ưa nóng như tôm. Tuy nhiên, đây cũng là vùng có tần số bão và áp thấp nhiệt đới lớn nhất Việt Nam, gây khó khăn và thiệt hại cho sản xuất thủy sản. Trong mùa khô, nước biển vùng duyên hải Nam Trung Bộ trong, sạch và có độ mặn cao, là nơi sản xuất giống hải sản tốt nhất Việt Nam. Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản ở vùng này hơn 43.000ha. Vùng triều chỉ chiếm hơn 1% diện tích tự nhiên của toàn vùng, trên 22.000 ha eo vịnh kín gió có độ mặn rất cao có thể phát triển nuôi biển với các qui mô và phương thức khác nhau. Diện tích các vùng nước ngọt nội địa không lớn, khoảng 18.000 ha.

    Vùng Tây Nguyên (gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng) có địa hình thuận lợi cho phát triển nuôi mặt nước lớn (31.500 ha). Chỉ có một ít diện tích ao, hồ nhỏ khoảng 2.600 ha, diện tích ruộng trũng không đáng kể, khoảng 160 ha. Các đối tượng thuỷ sản nước ngọt được nuôi chủ yếu ở đây là các giống cá được di giống từ miền Bắc vào như mè, trôi, trắm cỏ, mrigan, rô phi...

   + Vùng Đông Nam Bộ (gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh) có ưu thế phát triển nuôi trồng thuỷ sản cả nước mặn, lợ và ngọt. Đặc tính đa dạng sinh học vùng này rất cao. Diện tích có khả năng nuôi trồng hải sản tập trung ở Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) và Lộc An (Long Đất, Bà Rịa - Vũng Tàu) với trên 19.000 ha. Ngoài ra, còn có gần 11.000 ha vịnh có thể nuôi hải sản trên biển. Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ở vùng này cũng khá lớn (khoảng 78.500 ha), chủ yếu là các mặt nước lớn (khoảng 53.800 ha), các ao hồ nhỏ có diện tích đáng kể (khoảng 8.000 ha) và ruộng trũng (khoảng 4.000 ha).  

   + Vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm 12 tỉnh, trong đó có 8 tỉnh ven biển là Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang; 4 tỉnh nội đồng là Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long và An Giang) có thuỷ triều vào rất sâu, thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ. Đây là một lợi thế cho phát triển nuôi tôm nói riêng và nuôi hải sản nói chung, hiếm thấy trên thế giới. Diện tích đất bị nhiễm mặn chiếm tới 46,15% tổng diện tích toàn vùng, tập trung chủ yếu tại ven biển Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau, rất thích hợp phát triển nuôi tôm hoặc nuôi tôm kết hợp một vụ cấy lúa. Khí hậu và nhiệt độ trong vùng tương đối ổn định, trung bình 25-260C, rất phù hợp cho nuôi trồng thuỷ hải sản nhiệt đới. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có nhiệt độ cao, phù hợp với việc nuôi tôm và một số loài hải sản khác. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có khả năng phát triển diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt lớn nhất cả nước, hơn 400.000 ha, chiếm trên 10% diện tích tự nhiên của toàn vùng và trên 46% diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản trong cả nước.     

B.2.2.1. Nuôi thuỷ sản nước ngọt

Nước ta có những thuỷ vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng. Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nguồn nước cho các thuỷ vực. Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm trong cả nước. Tuy nhiên, cho tới nay chỉ có diện tích các ao, hồ nhỏ đã phát triển nuôi theo VAC được trên 80%, còn các mặt nước lớn tự nhiên và nhân tạo như các dòng sông, các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các vùng đất ngập nước, ruộng trũng mới được sử dụng rất ít. Một số nơi đã bắt đầu sử dụng những mặt nước này rất hiệu quả như hồ Trị An, vùng sông Tiền và sông Hậu của An Giang đã tiến hành nuôi cá basa, bống tượng... là những loài cá có giá trị cao cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Điều đó cho thấy khả năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong các thuỷ vực nước ngọt còn rất lớn.

                                    a. Nuôi cá ao hồ nhỏ

Nuôi cá là một nghề có tính truyền thống gắn với nhà nông. Xu hướng diện tích ao đang bị thu hẹp do nhu cầu phát triển xây dựng nhà ở. Đối tượng cá nuôi khá ổn định, bao gồm cá:  trắm, chép, trôi, mè, trê lai, rô phi, tra, ba sa... với nguồn giống sinh sản nhân tạo hoàn toàn chủ động. Năng suất cá nuôi đạt bình quân trên 3 tấn/ha. Cá chim trắng nước ngọt là một đối tượng nuôi mới, có giá trị hàng hoá cao, có nhiều triển vọng phát triển.Tuy nhiên nuôi thuỷ sản trong các ao hồ nhỏ khó trở thành một ngành hàng chuyên canh cho hàng hoá lớn, do đó nó chỉ mang tính chất nuôi truyền thống có tính tự cấp tự túc

                                    b. Nuôi cá mặt nước lớn

Đối tượng nuôi thả chủ yếu là trắm cỏ, cá mè, ngoài ra còn thả ghép cá trôi, cá rô phi... Do khó khăn trong khâu bảo vệ và giá cá mè thấp nên lượng cá thả vào hồ nuôi có xu hướng giảm.

Hình thức nuôi  lồng bè và kết hợp với khai thác cá trên sông, trên hồ đang càng ngày càng trở nên phổ biến. Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo được việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống của những người sống trên sông, ven hồ. ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung đối tượng nuôi lồng chủ yếu là trắm cỏ, qui mô lồng nuôi khoảng 12-24 m3, năng suất 450-600 kg/lồng. ở các tỉnh phía Nam đối tượng nuôi chủ yếu là cá basa, cá tra, cá lóc, cá bống tượng, cá he. Qui mô lồng, bè nuôi lớn, trung bình khoảng 100-150 m3/bè, năng suất bình quân 15-20 tấn/bè. Cá biệt ở một số vùng nuôi trong các lồng bè có kích cỡ lớn năng suất nhiều khi đạt tới hàng trăm tấn trên một bè nuôi..

                                    c. Nuôi cá ruộng trũng

Tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo các mô hình cá - lúa khoảng 446.151 ha. Năm 2001, diện tích đã nuôi là 239.379 ha và vẫn có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo. Năng suất và hiệu quả nuôi cá ruộng trũng khá lớn. Đây là một hướng cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.

                                    d. Nuôi tôm nước lợ

Những năm gần đây tôm được nuôi ở khắp các tỉnh ven biển trong cả nước. Đối tượng nuôi là tôm sú (P.monodon), tôm he (Penaeus merguiensis), tôm bạc thẻ (P.indicus), tôm nương (P.orientalis), tôm rảo (M.ensis), song chủ yếu là tôm sú. Diện tích nuôi tôm năm 2004 là 592.600 ha. Tôm được nuôi trong ao đầm theo mô hình khép kín, nuôi trong ruộng (1 vụ tôm + 1 vụ lúa) hoặc nuôi tôm trong rừng ngập mặn. Gần đây mô hình nuôi tôm trên nền đất cát đã được thử nghiệm và đang phát triển. Tổng sản lượng nuôi tôm nước lợ đã đạt 295.660 tấn, năng suất bình quân cả nước đạt khoảng 450 kg/ha. 

Nhìn chung, hình thức nuôi tôm hiện nay chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh còn ít. Năm 2004,  diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh có xu hướng tăng, chiếm 8% diện tích nuôi tôm nước lợ. Năng suất bình quân nuôi thâm canh đạt 2,5 tấn/ha, nuôi bán thâm canh đạt 1 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến đạt 0,38 tấn/ha, quảng canh đạt 0,25 tấn/ha nuôi, xen canh tôm lúa năng suất đạt 200-300kg/ha.

Năm 2004, các tỉnh ven biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên - Huế đã có diện tích nuôi tôm lợ là 43.394 ha, bằng 7,3% so với diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước. Sản lượng tôm nuôi của khu vực này là 25.426 tấn, bằng gần 8,6% tổng sản lượng tôm nuôi lợ của cả nước. Sản lượng nuôi tôm nước lợ của các tỉnh miền Bắc tuy mới chiếm chưa đầy 9% sản lượng nuôi tôm cả nước, nhưng có tốc độ phát triển nhanh.

Hiện nay nhiều nơi sử dụng diện tích vùng bãi triều, rừng ngập mặn, cửa sông chưa hợp lý; chưa thống nhất quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết cho từng tiểu vùng; đầu tư chưa đủ mức, chưa đồng bộ nên phát huy hiệu quả chưa tốt, có nơi sử dụng diện tích mặt nước nuôi quá mức, tác động tiêu cực tới sinh thái môi trường.

B.2.2.2. Nuôi biển

a. Hiện trạng nghề nuôi biển

Với bờ biển dài, gồm nhiều biển kín và tiếp cận với đại dương rộng mở, nằm trong vùng khí hậu ấm áp quanh năm… Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi biển.

Hiện nay, tại Việt Nam đang phổ biến các hình thức nuôi lồng bè cá mú, cá giò, cá cam, cá hồng, cá vược, tôm hùm và trai ngọc. Các tỉnh phát triển mạnh nghề nuôi lồng bè là Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà, Phú Yên và Bà Rịa-Vũng Tàu. Hiện có 30 loài cá có giá trị kinh tế cao đang được nuôi trong lồng bè nổi và cố định, một số loài được nuôi trong ao như cá mú và cá măng. Tuy nhiên, về quy mô và kỹ thuật nuôi còn rất đơn giản, chủ yếu do các hộ gia đình tự đầu tư canh tác, nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, chế biến theo kiểu dân dã.

Một số kết quả đạt được của nghề nuôi biển năm 2004 như sau:

Thành tựu

Kết quả

Lồng bè nuôi tôm, cá

 

Tổng số lồng bè

38.965 lồng

Sản lượng nuôi

10.000 tấn

Nuôi tôm hùm

 

Lồng nuôi

30.115 lồng

Sản lượng tôm hùm

2.328 tấn

Nuôi cá

 

Lồng nuôi

8.850 lồng

Sản lượng

7.675 tấn

Năng suất

8-10 kg/m3/lồng

Nuôi nhuyễn thể

 

Diện tích

12.417 ha

Sản lượng

118.945 tấn

Năng suất

7 tấn/ha

Ttrồng rong biển

 

Diện tích

4.850 ha

Sản lượng

26.900 tấn

 

- Đối tượng nuôi

+ Diện tích và sản lượng nuôi nhuyễn thể không có biến động nhiều. Tại vùng triều ven biển các tỉnh ĐBSCL như Bến Tre, Tiền Giang và Kiên Giang đang phổ biến nuôi quảng canh hoặc quảng canh cải tiến các loài như nghêu Meretrix lyrata, sò huyết Anadara granosa, trong đó Bến Tre có khoảng 2.858 ha nuôi nghêu, sản lượng 23.000 tấn/năm và 350 ha nuôi sò huyết, sản lượng 1.070 tấn/năm, Tiền Giang có 4.858 ha nuôi nghêu, sản lượng 42.500 tấn/năm và 450 ha nuôi sò huyết, sản lượng 5.700 tấn/năm. Các loài trai Pinctada maxima P. martensii bắt đầu được nuôi phổ biến ở vùng biển các tỉnh Khánh Hoà, Kiên Giang và Quảng Ninh theo hình thức giàn và phao trong các vịnh và eo biển.

+ Tôm hùm là đối tượng nuôi cho giá trị kinh tế lớn và được tiêu thụ khá mạnh. Nghề nuôi tôm hùm phát triển mạnh ở Khánh Hoà và Phú Yên, hầu hết là theo quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình. Lấy giống tôm từ tự nhiên, thả nuôi trong lồng lưới. Thời gian nuôi khoảng 12-18 tháng, thức ăn chủ yếu chế biến từ cá tạp. Loài tôm hùm đang được nuôi phổ biến là Panulirus hormatus, P. stimpsoni P. longipes.

   + Rong câu : Vẫn được phát triển nhiều ở Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế và Bến Tre. Rong sụn cũng đang được nuôi thử nghiệm và thu được kết quả tốt ở Kiên Giang.

Tóm lại, hiện nay, các nghề nuôi trai lấy ngọc, nuôi cá lồng, nuôi tôm hùm, nuôi thả nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trồng rong sụn có triển vọng tốt. Tuy nhiên, do khó khăn về vốn, hạn chế về kỹ thuật, công nghệ, chưa chủ động được nguồn giống nuôi, nên nghề nuôi biển thời gian qua còn bị lệ thuộc vào tự nhiên, chưa phát triển mạnh.

         b. Các yếu tố chính chi phối nghề nuôi biển

- Con giống

Phần lớn giống các loài nuôi như tôm hùm, sò và nghêu đều khai thác từ tự nhiên. Mỗi năm ở vùng Nha Trang thu được 300.000 con tôm hùm giống, không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân, giá con giống rất cao, khoảng 140.000-180.000 đồng/con cỡ 60-100g. Cỡ giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ thu từ bãi giống tự nhiên ở vùng ĐBSCL khoảng 300-400 con/kg, sau 6-8 tháng có thể đạt 60-90 con/kg đối với sò và 50-60 con/kg đối với nghêu.

Trái lại, trai lấy ngọc có nguồn giống nhân tạo là chủ yếu, nhờ công nghệ tiên tiến của Nhật Bản chuyển giao cho một số liên doanh với Việt Nam.

Sinh sản nhân tạo ốc hương tuy đã thành công nhưng đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm và từng bước chuyển giao công nghệ nên chưa thực sự đáp ứng đủ giống cho nuôi đại trà.

Các loài cá nuôi biển cũng chủ yếu khai thác giống từ tự nhiên hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Hằng năm, khu vực Nha Trang thu vớt được khoảng 200.000 con giống cá mú, tạm đủ cho nhu cầu nuôi hiện tại.

Một số loài bước đầu sản xuất giống nhân tạo thành công là cá chẽm Lates calcarifer, cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis, cá mú chấm đen Epinephelus coicoides, cá giò Rachycentron canadum…

Do thiếu nguồn giống các loài nên việc nhập khẩu con giống là tất yếu. Tuy nhiên, việc kiểm dịch con giống còn rất hạn chế, gần như chưa kiểm soát và loại trừ hết con giống mang mầm bệnh.

- Thức ăn

Hiện nay, thức ăn công nghiệp chủ yếu phục vụ cho nuôi tôm. Về cơ bản, các nhà máy hiện đại, có công suất lớn như Cargill của Mỹ, Pronconco-Pháp, CP-Thái Lan, Công ty phát triển nguồn lợi thuỷ sản Đà Nẵng… đã đáp ứng đủ lượng thức ăn nuôi tôm.

Nuôi cá biển và tôm hùm hầu như không dùng thức ăn công nghiệp mà phần lớn là thức ăn tự chế từ cá tạp. Hiện nay, sản lượng cá tạp chiếm đến 40% tổng sản lượng khai thác, vì vậy đây là nguồn cung cấp chính làm thức ăn cho nuôi cá biển.

- Môi trường và dịch bệnh

Tại các vùng nuôi phát triển, môi trường và dịch bệnh là vấn đề khó khăn nhất mà các nhà quản lý cũng như các chủ cơ sở, hộ nuôi rất khó kiểm soát và hoàn toàn bị động khi đối phó. Có những thời điểm đã gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi, trong đó nghề nuôi tôm sú và tôm hùm bị ảnh hưởng khá lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do việc phát triển nuôi ở các cùng triều cũng như trên biển hầu hết mang tính tự phát, chưa có quy trình hợp lý, chưa đầu tư hệ thống thuỷ lợi cho thuỷ sản, chưa có biện pháp xử lý thức ăn dư thừa và chất thải của các loài hải sản nuôi lồng bè làm ô nhiễm môi trường…

- Công nghệ nuôi

Công nghệ nuôi nhìn chung đang ở trình độ thấp. Thiết bị lồng bè chủ yếu là tự tạo, lắp ghép bằng vật liệu sẵn có, chưa có thiết bị chuyên dụng. Các hệ thống lồng bè quy mô công nghiệp mới chỉ đưa vào thí nghiệm, chưa có sức thuyết phục để phát triển đại trà. Chưa hình thành các yếu tố công nghiệp phụ trợ như phương tiện vận chuyển, hệ thống sản xuất thức ăn, thiết bị phân tích môi trường, kiểm soát dịch bệnh tại chỗ.

- Thị trường

Thị trường cho hải sản nuôi biển còn rất bấp bênh, phụ thuộc chủ yếu vào thị trường Hồng Kông, Bắc Đài Loan và Nam Xingapo. Thị trường nội địa trở thành nguồn thu hút chính các sản phẩm nuôi biển, gắn với việc đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch.

- Các yếu tố khác

Môi trường, khí hậu và thời tiết là những yếu tố tác động mạnh đến nghề nuôi biển, vì có thể gây sốc mạnh cho các đối tượng nuôi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nuôi.

c. Chính sách nuôi biển

Từ năm 1999, Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Phát triển Nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010” nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010, tổng sản lượng NTTS đạt 2 triệu tấn, xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD, trong đó nuôi biển đã tăng 30-40 lần so với năm 1999.

Bộ Thuỷ sản cũng đã xây dựng đề án “Phát triển giống và nuôi cá biển thời kỳ 1999-2010” với mục tiêu phát triển nhanh, vững chắc nghề nuôi cá biển bằng lồng, bè và trong đầm, eo vịnh, tạo khối lượng hàng hoá lớn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Theo xu hướng chung của thế giới, nguồn lợi thuỷ sản ngày càng cạn kiệt đã thúc đẩy phát triển nhanh và mạnh nghề nuôi thuỷ sản nhằm tạo nguồn cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Nuôi biển ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã phát triển đến trình độ công nghệ cao, năng suất và chất lượng ổn định, chiếm lĩnh được những thị trường lợi nhuận hấp dẫn như nuôi cá hồi ở Na Uy, nuôi cá vược biển ở Chi Lê, nuôi tôm hùm, cá ngừ và cá mú ở Ôxtrâylia, nuôi cá chình ở Trung Quốc và nuôi vẹm, hàu ở Pháp, v.v…

Giá trị kinh tế cao và sự ưa chuộng của các thị trường lớn đối với các loài hải sản nuôi là một trong những điều kiện kích thích ngành nuôi biển của Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi một sự đầu tư lớn không những về quy hoạch, cơ sở vật chất mà còn cả những kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến của các nước đi trước.

B.2.2.3. Kế hoạch nuôi trồng thuỷ sản 2010-2020

Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản ở tất cả các loại mặt nước, trong đó chú trọng nuôi trồng hải sản trên biển ở vùng ven bờ, gắn với mô hình quản lý cộng đồng, hình thành các hình thức tổ chức kinh tế tập thể, đảm bảo giải quyết việc làm cho lao động đánh cá chuyển nghề, góp phần quan trọng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản;

Đa dạng hình thức nuôi và cơ cấu giống nuôi, nhất là nuôi trên biển, nhằm khai thác tiềm năng còn lớn, bảo vệ môi trường sinh thái ven biển, đồng thời cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu;

Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học – công nghệ, đồng thời lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tạo đột phá để phát triển nhanh, hiệu quả, đồng thời phù hợp với điều kiện nghề cá nước ta trong các lĩnh vực sản xuất giống, công nghệ nuôi hải sản trên biển;

Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hoàn thiện hệ thông thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, hình thành những vùng nuôi công nghiệp tập trung để áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, sản xuất khối lượng hàng hoá lớn và ổn định, cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm;

Vùng đồng bằng sông Hồng tập trung phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên các loại mặt nước ngọt, mặn lợ, vùng ruộng trũng, eo vịnh, chú trọng nuôi cá rô phi, tôm các loại, cá song, cá giò, cá vược, vẹm xanh, trai cấy ngọc… Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung đầu ta phát triển nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ, đặc biệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung một số đối tượng chủ yếu như các loại tôm, sò huyết, bào ngư, trai cấy ngọc, cá song, cá giò, cá hồng…; hình thành các vùng sản xuất giống tập trung. Vùng Đông Nam Bộ phát triển nuôi nước ngọt hồ chứa và nuôi biển với một số đối tượng chủ yếu: cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại… Vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên tất cả các loại mặt nước, đặc biệt nuôi tôm, cá tra, ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển. Vùng miền núi trung du phía Bắc và Tây Nguyên phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nhất là nuôi cá hồ chứa, phát triển mô hình VAC với đối tượng chủ yếu là cá rô phi, tôm càng xanh, cá chép, trắm cỏ… phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ.

Toàn Ngành Thuỷ sản phấn đấu đến năm 2010:

- Sản lượng nuôi trồng đạt 2 triệu tấn. Trong đó: nuôi nước ngọt đạt 0,98 triệu tấn, nuôi mặn lợ đạt 1,02 triệu tấn (nuôi biển đạt 0,2 triệu tấn).

- Diện tích đưa vào nuôi trồng thuỷ sản từ 1,1 – 1,4 triệu ha. Trong đó: diện tích nuôi nước ngọt từ 0,5-0,6 triệu ha, diện tích nuôi mặn lợ từ 0,6 – 0,8 triệu ha.

 

    B.2.3. Chế biến thủy sản

Chế biến thủy sản là khâu rất quan trọng của chu trình sản xuất, kinh doanh thủy sản : bao gồm nuôi trồng - khai thác - chế biến và tiêu thụ. Những hoạt động trong lĩnh vực chế biến trong 10 năm qua được đánh giá là có hiệu quả, đã góp phần tạo nên sự khởi sắc của ngành thủy sản. Các khía cạnh được đánh giá cụ thể như sau:

B.2.3.1. Nguồn nguyên liệu và cơ cấu sử dụng nguyên liệu cho chế biến thủy sản

Do tổng sản lượng thuỷ sản tăng mạnh và công nghệ chế biến, thói quen tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi nên lượng nguyên liệu được đưa vào chế biến ngày càng nhiều. Năm 2000 lượng nguyên liệu đưa vào chế biến đã chiếm tới 66% tổng sản lượng thuỷ sản của Việt Nam. Đến năm 2004, ước tính lượng nguyên liệu đưa vào chế biến chiếm xấp xỉ 70%.

B.2.3.2. Chất lượng nguyên liệu

Nguyên liệu hải sản được đánh bắt từ nhiều loại tàu và ngư cụ khác nhau do đó sản phẩm đánh bắt được cũng có những đặc tính khác nhau. Đối với các tàu đi dài ngày, sản phẩm đánh bắt thường được bảo quản bằng đá, cá tạp thì ướp muối, rất ít phương tiện có hầm bảo quản lạnh. Các loại tàu nhỏ thường đi về trong ngày nên nguyên liệu hầu như không qua xử lý bảo quản. Nguyên liệu hải sản thường bị xuống cấp chất lượng do phương tiện và đầu tư cho khâu bảo quản còn quá ít, quá thô sơ. Sau khi hải sản được đánh bắt, thông qua các cảng, bến cá phần lớn chưa được xây dựng hoàn chỉnh do đó về mùa nóng các loại hải sản thường bị xuống cấp nhanh chóng, giá trị thất thoát sau thu hoạch lớn (khoảng 30%).  

Nghiên cứu công nghệ sau thu hoạch đã được tiến hành, song tác động của nó vào thực tiễn sản xuất còn ít, một phần do chất lượng thuỷ sản hiện thị trường còn chấp nhận một phần do những lý do kinh tế, tài chính, kỹ thuật mà bản thân ngư dân chưa thể áp dụng những công nghệ bảo quản mới này cho sản phẩm khai thác của mình.

Các loại nguyên liệu từ nuôi trồng nước ngọt, lợ do gần nơi tiêu thụ hoặc là chủ động khai thác nên được đưa trực tiếp ra thị trường hoặc vào thẳng các nhà máy chế biến, hầu như không qua xử lý bảo quản, chúng thường đảm bảo độ tươi, chất lượng tốt.

B.2.3.3. Các cơ sở vật chất kỹ thuật và sự phân bố theo vùng nguyên liệu của công nghiệp chế biến thủy sản

Cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành chế biến thuỷ sản phát triển khá nhanh. Cuối năm 2002 tổng số doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đông lạnh là 235 với tổng công suất cấp đông 3147 T/ngày. Phân chia theo vùng như sau: miền Bắc 4,0%, miền Trung 27,2% và miền Nam 68,8%. Năm 2004, hệ thống các nhà máy chế biến xuất khẩu đã phát triển mạnh với gần 405 cơ sở, trong đó có 239 đơn vị đạt tiêu chuẩn ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm, 153 doanh nghiệp chế biến thủy sản trong danh sách 1 xuất khẩu vào thị trương EU, 237 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc, 200 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Mỹ. Có 236 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu, với công suất chế biến đạt 3.000 tấn/ngày. Phần lớn cơ sở chế biến thủy sản hiện nay đã ngang với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và đã bước đầu tiếp cận được với trình độ công nghệ của thế giới.

Năm 2004, năng lực và công nghệ chế biến nội địa đã được cải thiện một bước, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Đã có không ít sản phẩm có trình độ kỹ thuật và chất lượng tương đương với sản phẩm chế biến xuất khẩu.

Các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ do sản lượng khai thác và nuôi trồng chưa phát triển, thấp hơn nhiều so với các vùng khác, lại chịu tác động mạnh của việc giao thương trực tiếp với thương nhân Trung Quốc về buôn bán nguyên liệu, nên chế biến thuỷ sản xuất khẩu còn ở mức khiêm tốn so với cả nước.

Nếu tính khả năng cung cấp nguyên liệu so với số nhà máy tại 3 vùng địa lý là phù hợp, nhưng nếu tính riêng cho từng tỉnh thì hiện nay số lượng nhà máy phân bố không đều.

Do tình trạng giao thông và cơ sở hạ tầng kém phát triển cùng với việc tiếp thị kém, chuyển giao công nghệ chưa được khai thông, đồng thời với việc kém nhậy bén về mặt kinh tế thị trường của các tỉnh xa các trung tâm kinh tế lớn đã là những nguyên nhân cơ bản của việc phân bố  cơ sở chế biến thuỷ sản không hoàn toàn gắn với các vùng sản xuất nguyên liệu.

B.2.3.4. Các mặt hàng chế biến thủy sản chính

a. Mặt hàng đông lạnh

Đến năm 2000, lượng hàng thuỷ sản đông lạnh vẫn tiếp tục tăng mạnh (chiếm 86% về giá trị các mặt hàng thuỷ sản chế biến của Việt Nam).

Trong các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh thì tôm đông lạnh chiếm khoảng 23% về khối lượng chế biến.

Mực và bạch tuộc đông lạnh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, trung bình là 38,57%/năm. Năm 2000, lượng mực chế biến đông lạnh xuất khẩu lên tới 38.104 tấn, chiếm 18% khối lượng hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Mực thường được sản xuất dưới dạng đông lạnh nguyên con, đông rời hoặc gần đây là Sashimi, Seafood mix, mực trái thông v.v... 

Mặt hàng cá đông lạnh những năm gần đây cũng có tốc độ tăng rất mạnh. Năm 2000 đã đạt 56.052 tấn, chiếm 19% tổng sản lượng thuỷ sản xuất khẩu. Mặt hàng  filet đông lạnh phần lớn được chế biến cho xuất khẩu. Đông lạnh nguyên con tăng nhanh do được tiêu thụ cho cả thị trường nội địa, thị trường Trung quốc và một phần xuất khẩu cãc thị trường khác.

Các loại đông lạnh khác : chủ yếu là các loại ghẹ, ốc, cua, sò, điệp, các mặt hàng phối chế (như ghẹ nhồi  Kany boy, Kany girl, gạch ghẹ đóng bánh đông lạnh). Các sản phẩm này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh cùng với sự tăng trưởng của các mặt hàng có giá trị gia tăng. Năm 2000, sản lượng của các mặt hàng này tăng lên tới 77.212 tấn, đạt 26% tổng sản lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.

b. Sản phẩm có giá trị gia tăng

Mặt hàng này càng ngày càng có xu hướng phát triển, năm 1991 mới chiếm 1,5% đến năm 2000 đã lên tới 35% và năm 2004 đã đạt 40%. Có thể nói rằng đây là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn phát triển vừa qua.

c. Mặt hàng tươi sống

Gần đây cũng đã phát triển, chủ yếu dùng cho xuất khẩu, bao gồm các loại cua, cá, tôm còn sống hoặc loại còn tươi như thịt cá ngừ đại dương.

d. Mặt hàng khô

Dạng sản phẩm này được sản xuất khá phổ biến vì đơn giản về thiết bị, công nghệ, các loại sản phẩm chính là mực khô, cá khô, tôm khô, rong câu khô, các loại khô tẩm gia vị.

Mực khô là mặt hàng có sản lượng tăng giảm không ổn định có thể do sản lượng khai thác không ổn định.

Rong câu khô chủ yếu được sản xuất theo phương pháp thủ công đơn giản, sản phẩm gồm 2 loại rong câu khô ngọt và rong câu khô mặn tùy thuộc vào yêu cầu của người mua hoặc thị trường tiêu thụ, ví dụ cho thị trường Nhật thường xuất khẩu rong mặn, thị trường Liên Xô (cũ) xuất khẩu rong ngọt trong bao cói 35 kg.

Rong sụn và rong mơ chủ yếu được khai thác ở miền Trung (từ Đà Nẵng trở vào), lượng khai thác và sử dụng còn ít.

Các loại  cá khô như cá cơm, trích, lầm...  được sản xuất dưới dạng khô mặn, kỹ thuật đơn giản, sản lượng  có chiều hướng giảm sút do sức tiêu thụ trên thị trường trong nước giảm dần, đòi hỏi phải được thay bằng những mặt hàng chế biến có chất lượng cao hơn.

Các mặt hàng tôm nõn khô, khô nguyên con, moi khô, cá khô tẩm gia vị sản lượng chưa được thống kê.

B.2.3.5. Vấn đề chất lượng, quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm

Chất lượng các mặt hàng xuất khẩu những năm gần đây đã đạt được rất nhiều tiến bộ do hoạt động tích cực của bản thân các cơ sở chế biến thuỷ sản cũng như các trung tâm kiểm tra chất lượng thuỷ sản được bố trí đều khắp trên phạm vi toàn quốc. Nếu năm 2002, Việt Nam có 68 doanh nghiệp được đưa vào danh sách I đối với EU thì  đến năm 2004 đã có 153 doanh nghiệp và đến năm 2006 đã có 209 doanh nghiệp có code xuất khẩu vào EU, là điều khẳng định chất lượng của hàng thuỷ sản Việt Nam. Đây là một thành công lớn cho những nỗ lực của ngành. Trường hợp có Chloramphenicol trong mặt hàng tôm đông lạnh chỉ là trường hợp cá đặc biệt và đang được giải quyết theo nhiều góc độ khác nhau cả về mặt kĩ thuật kiểm định lẫn yếu tố thương mại.

Các mặt hàng thủy sản tiêu dùng nội địa sản xuất với quy mô lớn mặc dù đã có những tiêu chuẩn ban hành, song việc kiểm tra chúng những năm gần đây hầu như không được chú trọng. Các sản phẩm nếu là mặt hàng nhỏ về số lượng thì hầu như chưa có tiêu chuẩn cụ thể mà chỉ là sự thỏa thuận hai bên mua và bán. Phần kiểm tra chất lượng hàng thuỷ sản nội địa những năm gần đây hầu như bị bỏ quên và cũng là việc của liên ngành y tế – thương mại và thuỷ sản, vấn đề này cần được giải quyết sớm trên cơ sở hợp tác của 3 ngành nói trên.

B.2.3.6. Định hướng đến năm 2020

Hình thành các trung tâm nghề cá lớn phải gắn với việc xây dựng các khu công nghiệp chế biến công nghệ cao để thu hút khối lượng thuỷ sản nguyên liệu lớn, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tăng giá trị cho các loại sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam.

Nâng cấp đồng bộ về cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị các cơ sở chế biến thuỷ sản hiện có và phát triển thêm để nâng cao tổng công suất cấp đông. Tiếp tục phát huy lợi thế về tiềm năng trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển các vùng sản xuất tập trung gắn với phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ nghề cá, hình thành các trung tâm nghề cá lớn tại một số trọng điểm ven biển và đồng bằng Nam Bộ.

Tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu công nghệ chế biến tạo giá trị gia tăng cao; bảo quản nguyên liệu thuỷ sản sau thu hoạch; Lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tạo đột phá để phát triển nhanh, hiệu quả, đồng thời phù hợp với điều kiện nghề cá nước ta.

Đa dạng hoá các mặt hàng thuỷ sản chế biến, nâng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng và tươi sống, đồng thời phát triển sản xuất một số loại sản phẩm chủ lực mang tính đặc trưng của thuỷ sản Việt Nam, có giá trị và sức cạnh tranh cao để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu, giữ vững là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao.

Vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có; Vùng Bắc Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có và phát triển thêm một số nhà máy.

Toàn ngành phấn đấu đến năm 2010:

- Sản lượng thuỷ sản chế biến xuất khẩu đạt 891.000 tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4 tỷ USD;

- Tổng công suất cấp đông là 3.500 – 4.000 tấn/ngày;

- Các cơ sở chế biến thuỷ sản (theo phương thức công nghiệp) đều đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản; phấn đấu áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ở doanh nghiệp có điều kiện.

 

    B.2.4. Tiêu thụ

Thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản đã phát triển chiều rộng và từng bước đi vào chiều sâu, tạo được vị trí và thế đứng ở trong và ngoài nước.

Cơ cấu tiêu thụ giữa thị trường trong và ngoài nước đã có nhiều thay đổi, từ chỗ tiêu thụ nội địa chiếm 98,7% năm 1980, xuống còn 86,9% năm 1990 và 75% năm 2000; trong khi đó lượng hàng tiêu thụ ở thị trường ngoài nước ngày một tăng từ 1,2% năm 1980 lên 13,1% năm 1990 và 25% năm 2000.

 

B.2.4.1. Thị trường ngoài nước

a. Kim ngạch xuất khẩu

Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 33,6%/ năm, năm 2004 kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ đạt 2,4 tỷ USD.

Bảng 11: Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

Năm

Khối lượng

(tấn)

Tốc độ so với

năm 1980 (lần)

Kim ngạch

(triệu USD)

Tốc độ so với

năm 1980 (lần)

1980

2.720

1,0

11,3

1,0

1985

24.800

9,1

90,0

7,9

1990

49.332

18,1

205,0

18,1

1995

127.700

46,9

550,1

48,7

2000

291.922

107,3

1.478,6

130,5

2004

531.326

195,0

2.397,0

212,0

b. Thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu đã được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả năm châu lục, trong đó Nhật Bản và Mỹ là hai thị trường lớn đầy tiềm năng. Tuy thị trường Nhật vẫn là một thị trường lớn nhưng cũng giảm dần về tỷ trọng, từ 50% thị phần (năm 1997) xuống còn 32,2% (năm 2004). Thị trường Mỹ có tốc độ phát triển khá nhanh, từ chỗ chỉ đạt 5% vào năm 1997, đến năm 2000 đã 20% thị phần và năm 2004 chiếm 25%. Thị trường châu Á (trừ Nhật Bản) chủ yếu là Đài Loan và Hàn Quốc có xu hướng giảm, tỷ trọng năm 1997 là 31%, đến năm 2000 giảm còn 28% và năm 2004 chỉ chiếm 17,2%. Thị trường châu Âu ổn định ở mức 10% thị phần.

Đặc điểm của thị trường thương mại thế giới là vừa xuất lại vừa nhập. Riêng thủy sản Việt Nam hầu như chỉ mới chỉ chú trọng đến xuất khẩu. Gần đây các doanh nghiệp kinh doanh chế biến xuất nhập khẩu của nước ta đã mở rộng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến tái xuất. Điều đó thể hiện những dấu hiệu mới, một mặt chứng tỏ sức cạnh tranh, công nghệ, kỹ thuật, trình độ tay nghề của công nhân và khả năng tiếp thị của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đang thực sự vươn lên, mặt khác chỉ có tham gia nhập-xuất mới có thể phần nào giải quyết được vấn đề muôn thuở của nghề cá : tính mùa vụ.

Nhập khẩu cho tiêu dùng nội địa còn rất hạn chế, gần đây mới bắt đầu nhập một số đồ hộp. Nhập khẩu cho tiêu dùng có mặt tích cực là kích thích sự phát triển công nghệ và sản xuất trong nước.

c. Mặt hàng xuất khẩu thủy sản

Cơ cấu sản lượng và giá trị theo các nhóm hàng sản phẩm thủy sản xuất khẩu luôn có nhiều biến động, chỉ có mặt hàng tôm đông lạnh tương đối ổn định ở mức trên 50% thị phần. Mặt hàng mực và tuộc đông lạnh có xu hướng giảm liên tục, từ 15% năm 1997 xuống con 7% năm 2004. Mặt hàng cá đông lạnh  tương đối ổn định ở mức trên 10% thị phần những năm 2004 đã tăng lên chiếm 22% thị phần. Nhóm mặt hàng thủy sản tươi sống có xu hướng tăng nhẹ. Nhóm mặt hàng thủy sản đông lạnh khác và nhóm hàng khô có sự tăng giảm thất thường, không có xu hướng rõ rệt. Hàng xuất khẩu đã qua chế biến tăng từ 201.724 tấn năm 1997 lên 516.952 tấn năm 2004, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997-2004 là 14,4%/năm.

B.2.4.2. Thị trường trong nước

Thị trường trong nước đã có những thay đổi nhanh chóng, lượng thuỷ sản tiêu thụ năm 2000 (1,6 triệu tấn) lớn gấp 3 lần năm 1980 (551.860 tấn).

Cơ cấu giữa sản phẩm ăn tươi và chế biến nội địa cũng đã có sự thay đổi: tỷ trọng ăn tươi năm 1990 chiếm 72%, năm 1995 còn 60,85%, năm 2000 chỉ còn 34%.

Mức tiêu thụ bình quân đầu người phát triển một cách mạnh mẽ, năm 1995 là 14,7 kg/người/năm, năm 2000 được khoảng 20,4 kg/người/năm và có xu hướng tiếp tục tăng cao. Trong thời gian tới tiêu thụ hàng thủy sản nội địa tiếp tục phát triển và ngày càng có vị trí cao trong nhu cầu thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân.

Nét mới của thị trường tiêu thụ nội địa là: bên cạnh các mặt hàng truyền thống như nước mắm, cá khô, cá sấy, cá nướng... mà mức tiêu thụ bình quân đầu người nhiều năm gần đây đạt mức bão hoà, ổn định khoảng 2,5 lít nước mắm/người/năm, thị trường nội địa đã bắt đầu đòi hỏi hàng thủy sản có chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh, không gây độc, bao bì đóng gói thuận tiện cho vận chuyển và sử dụng.

Nhu cầu của người dân thành phố, đô thị đang đòi hỏi mạnh các mặt hàng thủy đặc sản tươi sống, đồ hộp, hàng thủy sản đông lạnh dạng làm sẵn, ăn liền.

Mặt khác, nhiều mặt hàng trước đây chỉ dành cho tiêu thụ nội địa nay cũng đang vươn ra xuất khẩu như nước mắm, cá khô...

Chính vì vậy ngành chế biến cho thị trường nội địa đang dần hoà đồng với chế biến phục vụ xuất khẩu, do đó việc phân chia ranh giới rạch ròi giữa chế biến cho các thị trường khác nhau ngày càng trở nên không cần thiết.

B.2.4.3. Những mặt hạn chế

a. Về xuất khẩu

Nhược điểm chính là chưa định hình, tập trung sức để tạo một số mặt hàng chủ lực, chưa có các giải pháp đồng bộ (tạo nguồn nguyên liệu lớn, ổn định, đúng tiêu chuẩn kích cỡ, độ tươi và công nghệ chế biến cao). Chưa tập trung giải quyết tốt việc đổi mới công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với sản phẩm của nghề khai thác nhằm tăng chất lượng nguyên liệu. Vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm khép kín từ khâu sản xuất ban đầu(từ khâu sản xuất giống và thức ăn cho thuỷ sản) đến các công đoạn nuôi, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch theo nguyên tắc “ từ ao nuôi tới bàn ăn” còn nhiều bất cập chưa đáp ứng tốt các yêu cầu khắt khe của các thị trường và của người tiêu dùng hiện đại.

Tuy đã có một số tiến bộ trong việc đa dạng hóa mặt hàng, song hàng thô vẫn chiếm 60%, còn mặt hàng có giá trị gia tăng mới có 40%.

Vấn đề đăng ký nhãn hiệu và thương hiệu hàng hoá thuỷ sản cũng chưa được quan tâm đúng mức. Ngoài nước mắm Phú Quốc, chưa có nhãn hiệu hàng hoá nào được  đăng ký chính thức trên thị trường thế giới. Nếu có nhãn hiệu và thương hiệu chắc chắn sẽ tránh được nhiều rắc rối và nâng cao được uy tín của hàng thuỷ sản Việt Nam trên thương trường.

b. Về thị trường nội địa

Do chủng loại mặt hàng chế biến còn nghèo nàn chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân, hơn nữa việc tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị hầu như không có, vì vậy lượng hàng thuỷ sản thông qua chế biến được tiêu thụ rất hạn chế, chủ yếu cho người dân thành phố.

Sản phẩm thuỷ sản phục vụ nhu cầu của thị trường vùng trung du miền núi chưa đáp ứng được do giá cả và chi phí vận chuyển còn cao.

 

    B.2.5. Dịch vụ hậu cần

Cơ sở dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản trong thời kỳ 1991-2004 đã có bước phát triển nhanh chóng, đáp ứng được yêu cầu cơ bản phát triển ngành trong giai đoạn đổi mới và điều quan trọng là đáp ứng được thực tế đòi hỏi của sản xuất trên hầu khắp các địa phương trong cả nước.

B.2.5.1. Cơ khí đóng sửa tàu thuyền

Với một ngành đánh cá tiến lên từ thủ công, đại bộ phận tàu thuyền vỏ gỗ được các xưởng thủ công ở các làng chài tự đóng theo các mẫu và công nghệ truyền thống, do đó, số cơ sở đóng sửa tàu thuyền cá hiện có rất nhiều, lên tới 702 cơ sở với năng lực đóng mới khoảng 4.000 chiếc/năm tuy nhiên chỉ có một số rất ít cơ sở có thể đóng và lắp được máy cho các loại tàu thuyền vỏ gỗ và vỏ sắt từ 600 CV trở xuống. Năng lực đóng mới tàu vỏ sắt rất hạn chế, chỉ tập trung ở Xí nghiệp Cơ khí Hạ Long, Cơ khí Nhà Bè và Cơ khí Vật Cách.

Do chưa sản xuất được các loại máy thuỷ có công suất lớn nên mặc dù có năng lực sửa chữa 8.000chiếc/năm nhưng việc sửa chữa chủ yếu được thực hiện bằng cách thay thế phụ tùng. Những năm gần đây, một số cơ sở đã thiết kế và đóng được tàu bằng vật liệu composit từ 600 CV trở xuống, nhưng nhìn chung các loại tàu này còn rất hiếm khách hàng.

Các cơ sở đóng và sửa thuyền cá được phân bố như sau:

·        Miền Bắc:                       7 cơ sở.

·        Bắc Trung Bộ: 145 cơ sở.

·        Nam Trung Bộ:            385 cơ sở.

·        Đông Nam Bộ:   95 cơ sở.

·        Tây Nam Bộ:      70 cơ sở.

Từ khi thành lập (năm 1960) đến nay, ngành cơ khí thuỷ sản mới khẳng định mình được ở một số phương diện hoạt động sau đây:

- Tư vấn về đầu tư và thiết kế

- Đăng kiểm

- Đóng sửa thuyền máy vỏ gỗ

- Sản xuất phụ tùng phụ kiện phục vụ sửa chữa máy thuỷ cho các tàu thuyền đánh cá

- Sản xuất và cung cấp các dịch vụ về phụ tùng, lắp ráp điện lạnh

- Sản xuất và dịch vụ thiết bị phục vụ nuôi trồng

- Thực hiện các dịch vụ bảo hành

Những tồn tại chủ yếu: Các cơ sở đóng sửa tầu thuyền phần lớn có qui mô nhỏ, phân tán và công nghệ lạc hậu. Tuy nhiên nó phù hợp với một nghề cá nhân dân quy mô nhỏ phân tán. Các doanh nghiệp Nhà nước về đóng sửa tàu thuyền không đủ khả năng đầu tư đổi mới thiết bị, ít khách hàng. Nhân lực kĩ thuật quá ít ỏi và phân tán. Công nhân đóng sửa tầu thuyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, nên việc tiếp thu công nghệ mới bị hạn chế.

Nhận định: Cơ khí thuỷ sản mặc dù có một lịch sử tồn tại khá dài nhưng chứng tỏ chưa có đủ điều kiện và khả năng trở thành một ngành sản xuất hàng hoá độc lập.

B.2.5.2. Cảng cá, bến cá

Tính đến năm 2004, tổng số cảng cá, bến cá đã và đang xây dựng là 91, bao gồm 75 cảng cá, bến cá ở ven biển, 16 cảng cá trên các hải đảo. Những cảng cá và bến cá ở vùng ven biển và trên các hải đảo đã đáp ứng được một phần nhu cầu trú đậu, bốc dỡ sản phẩm, trao đổi hàng hoá của các tàu đánh cá. Một số cảng đã phát huy tác dụng như: Cát Lở, Cát Bà, Phan Thiết, Thuận Phước. Tuy vậy, còn một số cảng do chọn vị trí không phù hợp nên chưa phát huy được tác dụng.

Hệ thống hạ tầng dịch vụ trên các cảng cá, bến cá (như: cung cấp nhiên liệu, nước đá bảo quản, nước sinh hoạt, cơ sở dịch vụ sửa chữa tàu thuyền) đã xây dựng hoàn chỉnh, tuy nhiên ở phần lớn cảng cá các dịch vụ này có quy mô nhỏ và chưa đồng bộ.

Đứng về mặt tổng thể, hệ thống bến cảng cá của cả nước chưa hoàn thiện, chưa tạo được các cụm cảng cá trung tâm cho từng vùng lãnh thổ, làm cơ sở cho việc hình thành các cụm công nghiệp nghề cá lớn của cả nước trong tương lai.

B.2.5.3. Dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị, hệ thống tiêu thụ sản phẩm

Hiện tại có 2 Công ty sản xuất lưới sợi trong nước và 5 Công ty 100% vốn nước ngoài của Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan với năng lực sản xuất lưới gần 12.000 tấn/năm.

Dịch vụ cung cấp nhiên liệu và nước đá bảo quản thuỷ sản tuy chưa có hệ thống cung cấp với quy mô lớn, nhưng mạng lưới hoạt động rộng khắp, đáp ứng tốt nhu cầu của các tàu thuyền đánh cá. Việc cung cấp thiết bị phụ tùng máy thuỷ, dụng cụ hàng hải chưa được quản lý có hệ thống.

Việc mua bán và tiêu thụ sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng hình thành cơ bản theo 3 hệ thống:

+ Hệ thống các nhà máy chế biến xuất khẩu với gần 405 nhà máy, trong đó 236 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu;

+ Hệ thống nậu vựa hình thành đều khắp trên các tỉnh nghề cá với hình thức đa dạng và phong phú. Hệ thống này vừa thực hiện mua bán, vừa chế biến và tiêu thụ sản phẩm (đây là hệ thống chủ lực trên thương trường nghề cá hiện nay);

+ Hệ thống chợ cá và mạng lưới tiêu thụ trong dân: Mạng lưới các cửa hàng thuỷ sản chuyên nghiệp được trang bị các phương tiện bảo quản đã và đang hình thành ở các thành phố lớn. Việc thay đổi thị hiếu tiêu thụ cũng làm thay đổi các phương thức trang bị cho các hàng bán đồ thuỷ sản: những người buôn bán thuỷ sản ở các đô thị đã bán cá sống là phổ biến. Hệ thống mua bán và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm hiện nay đang dần thích hợp với cơ chế thị trường, song về mặt tổ chức và quản lý còn nhiều yếu kém, đặc biệt là hệ thống chợ cá chưa có tổ chức, hiện tại mới hình thành ở dạng tự nhiên nên chưa tạo ra được thị trường mua bán quy mô và thuận lợi cho người bán và người mua

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang