Số lượt truy cập:   573728


Kỷ niệm Ngày truyền thống Ngành Thuỷ sản Việt Nam (01/4/1959-01/4/2009)
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 24/03/09-08:19:11

Ngày 01/4/1959, Bác Hồ về thăm động viên bà con ngư dân làng cá Cát Bà - Cát Hải. Tại đây, Người đã căn dặn: “Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ”; và từ đó ngày 01/4 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống của Ngành Thuỷ sản Việt Nam và là ngày hội của nhân dân huyện đảo Cát Hải.


Năm 2009, kỷ niệm 50 năm Ngày Bác Hồ về thăm Làng Cá Cát Bà- Kỷ niệm Ngày truyền thống Ngành Thuỷ sản Việt Nam (01/4/1959-01/4/2009) - Khai trương Du lịch Hải Phòng năm 2009, cũng là năm tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; để động viên lao động Ngành Thủy sản và nhân dân thành phố Hải Phòng tiếp tục phát huy phong trào thi đua yêu nước, hăng say lao động sản xuất, xây dựng nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, làm tốt công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển và hải đảo; thúc đẩy sự phát triển du lịch thành phố Hải Phòng và cả nước trong tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nhìn lại một chặng đường, ngay từ đầu những năm 1980, được Nhà nước cho phép áp dụng thử nghiệm một số cơ chế gắn sản xuất với thị trường, trong đó có việc sớm đẩy mạnh xuất khẩu để tự trang trải nhằm nâng cao năng lực phát triển ngành, ngành Thuỷ sản đã vận dụng sáng tạo, có hiệu quả cơ chế này và tạo ra bước ngoặt quan trọng đầu tiên cho sự phát triển của kinh tế thuỷ sản, mở đường cho sự tăng trưởng liên tục suốt hơn 25 năm qua. Với thành công bước đầu của cơ chế mới, năm 1993, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VII đã xác định xây dựng thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Phát huy các nguồn lực, đổi mới để phát triển, trong xu thế mở cửa và hội nhập đất nước, ngành đã lấy xuất khẩu là động lực và ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này. Nhờ đó, thế mạnh của nghề cá nhân dân được phát triển mạnh qua các mô hình kinh tế ngoài quốc doanh, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư để phát triển. Việc ngành thuỷ sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu đã tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đất nước.

Ngành đã chủ động đi trước trong hội nhập quốc tế, đẩy mạnh việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đặc biệt, từ đầu những năm 1990 đã tập trung đổi mới phương thức quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, tiếp cận để đáp ứng những đòi hỏi cao nhất về lĩnh vực này của các thị trường lớn, nhờ đó nhanh chóng thiết lập và đứng vững trên các thị trường thuỷ sản lớn nhất thế giới. Trong cơ chế ấy, vai trò nòng cốt, xung kích của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, các mối liên kết cộng đồng và sự hình thành các Hội, Hiệp hội như là sự tất yếu của quá trình hội nhập và là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình tổ chức lại sản xuất của ngành. Các giải pháp đúng đắn đó đã giúp cho ngành, trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thu được những kết quả quan trọng trong sự phát triển của mình.

Từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ, lĩnh vực khai thác hải sản đã chuyển dịch theo hướng cơ giới hóa, tăng cường khai thác ở vùng biển xa bờ, đẩy mạnh công tác thăm dò tiềm năng ngư trường, ứng dụng công nghệ khai thác tiên tiến nhằm vào các đối tượng khai thác có giá trị cao và các đối tượng xuất khẩu, cải tiến công nghệ bảo quản sau thu hoạch để nâng cao chất lượng sản phẩm khai thác. Cùng với việc phát triển khai thác hải sản xa bờ là ổn định khai thác vùng ven bờ, khai thác đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi, giữ gìn sự bền vững của môi trường sinh thái. Số tàu thuyền có công suất cao tăng khá nhanh với hơn 14.000 tàu công suất đủ lớn hoạt động khai thác xa bờ. Nhờ đó, tỷ trọng sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh chóng, chiếm hơn 40 % tổng sản lượng thủy sản khai thác. Hệ thống các cảng cá trong ngành đưa vào sử dụng đã phát huy vai trò, trong đó không ít cảng đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong ngành đã bước đầu hình thành được hệ thống hậu cần dịch vụ tuyến khơi xa, tuyến đảo, tuyến ven bờ gắn với các trung tâm nghề cá. Các mô hình tổ chức sản xuất trên biển đã phát huy hiệu quả sản xuất ở nhiều nơi. Sự hiện diện dân sự của lực lượng tàu thuyền và ngư dân trên biển đã góp phần vào việc giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Nuôi trồng thuỷ sản, từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp, tự túc, đã nhanh chóng trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ thuật được đổi mới không ngừng, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị kinh tế gắn với phát triển, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân. Khi tỷ trọng diện tích nuôi mặn, lợ tăng lên, nhất là nuôi tôm, thì sản lượng nuôi, nhất là sản lượng nuôi đưa vào xuất khẩu, đã tăng nhanh chóng và hiệu quả kinh tế có bước nhảy vọt. Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung, với công nghệ, cách tổ chức và quản lý tiên tiến. Các đối tượng có giá trị cao, có sản lượng lớn và có khả năng xuất khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt. Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo. Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam được xếp thứ 3 trên thế giới.

Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh. Việt Nam đã nhanh chóng tiếp cận với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đảm bảo chất lượng và có tính cạnh tranh, tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới. Các cơ sở sản xuất không ngừng được gia tăng, đầu tư, đổi mới. Đến năm 2008, cả nước có gần 500 cơ sở chế biến thuỷ sản. Chất lượng sản phẩm thuỷ sản không ngừng được nâng lên do các cơ sở chế biến ngày càng tiên tiến, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ 18 doanh nghiệp năm 1999, đến nay đã có 245 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trư­­ờng EU, 320 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc. Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã chinh phục và đứng vững trên 140 thị trường của thế giới. Việt Nam thuộc trong số 10 quốc gia trên thế giới dẫn đầu về giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Khoa học công nghệ và công tác khuyến ngư ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của ngành. Năng lực nghiên cứu khoa học tiếp tục được tăng cường thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và hệ thống thiết bị phục vụ nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực. Các cơ quan quản lý đã trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý ngành. Những chính sách quản lý, kế hoạch phát triển quan trọng được ban hành nhằm khai thác các tiềm năng phát triển; Tạo điều kiện, ủng hộ và khuyến khích nhân rộng các mô hình sản xuất giống sạch bệnh; Áp dụng công nghệ nuôi trồng thủy sản bảo đảm các yêu cầu về an toàn vệ sinh, không làm hại môi trường; Triển khai các mô hình tổ chức sản xuất khai thác hải sản hướng đến hiệu quả, gắn khai thác với dịch vụ hậu cần; Các mô hình chế biến xuất khẩu thủy sản gắn kết với tổ chức vùng sản xuất và cung cấp nguyên liệu từ nuôi trồng trong điều kiện phải luôn thích ứng với những sự trồi sụt của giá cả thị trường sản phẩm, nhiên liệu; những khó khăn về nguồn lợi, và diễn biến vô cùng bất thường của thời tiết...

Bằng sự nỗ lực phấn đấu liên tục, không mệt mỏi, vượt qua những khó khăn khách quan và chủ quan, ngành thuỷ sản đã liên tục hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản được nêu trong Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, được thể chế hóa trong các kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của nền kinh tế. Xu thế này tiếp tục được phát huy trong nửa đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thuỷ sản đã thay đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao. Phát huy liên tục những sản phẩm thủy sản có lợi thế, mang lại giá trị thu nhập cao trên thị trường thủy sản thế giới như tôm, cá tra.

Xin nêu một vài số liệu về sự tăng trưởng ngày một nhanh hơn, vững chắc và năng động hơn của ngành, đặc biệt từ sau quá trình đổi mới. Nếu như năm 1986, tổng sản lượng thủy sản chỉ đạt hơn 800 nghìn tấn, trong đó khai thác đạt gần 600 nghìn tấn, nuôi trồng đạt hơn 200 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt ở mức 100 triệu USD, thì đến năm 2008, tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 4,58 triệu tấn, tăng 9,2% so với năm 2007; trong đó sản lượng nuôi trồng 2,45 triệu tấn, tăng 15,3% so với năm 2007; sản lượng khai thác ước đạt 2,13 triệu tấn, tăng 2,9% so với năm 2007; xuất khẩu thuỷ sản đạt 4,5 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2007. So với mục tiêu đề ra cho năm 2010, sản lượng thuỷ sản năm 2008 đã vượt mục tiêu (mục tiêu là 4 triệu tấn).. Giá trị làm ra của Thuỷ sản ngày càng có tỷ trọng cao hơn trong toàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và trong nền kinh tế quốc dân. Đây thực sự là những kết quả xứng đáng với sự nỗ lực chung của hàng triệu lao động ở mọi lĩnh vực, cương vị và mọi hình thức hoạt động trong nghề cá cả nước.

Cùng với những thành tựu về kinh tế, sự tăng trưởng trên các lĩnh vực hoạt động của ngành đã thu hút được lao động đáng kể. Lao động trong ngành từ hơn 1,8 triệu người năm 1990 nay lên khoảng 4 triệu người những năm vừa qua, cơ cấu lao động cũng thay đổi rõ rệt, thu nhập trung bình của lao động ven biển được cải thiện đáng kể và góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Nếu như hơn 20 năm trước, lao động trong ngành thủy sản chỉ tập trung chủ yếu ven biển trong khai thác ven bờ, thì đến nay không những chuyển mạnh sang khai thác xa bờ mà lao động thủy sản còn tập trung trong nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản. Hàm lượng công nghệ trong lực lượng lao động đã tăng lên rõ nét.

Có thể khẳng định, thành  quả của quá trình xây dựng và phát triển thể hiện qua những thành tựu và tiến bộ của ngành thủy sản là rất đáng kể và khá vững chắc, đóng góp nhiều hơn cho kinh tế - xã hội cũng như an ninh - quốc phòng của đất nước.

Với những thành tích xuất sắc của lao động trong ngành Thủy sản đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngành Thuỷ sản đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và Huân chương Hồ Chí Minh; hàng ngàn tập thể, hàng vạn cán bộ, nông dân, ngư dân đã được trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và của Ngành, xứng đáng với những thành tích đã đạt được trong suốt 50 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển.


Theo haiphong.gov.vn




CÁC TIN KHÁC
  Ngư dân phải treo cờ Tổ quốc khi ra khơi đánh bắt hải sản
  Độc đáo nghề câu kiều
  Làng câu cá ngừ đại dương kiếm 1.000 tỷ mỗi năm ở miền Trung
  "Thẻ vàng" và cả sinh mạng (P2): NGƯ DÂN VI PHẠM KHUYÊN BẠN CHÀI
  Khắc phục cao nhất 4 khuyến nghị của EC
  Cơ hội xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Braxin
  Quảng Ngãi: Trúng mùa cá cơm, ngư dân xã Tịnh Kỳ thu 20 tỉ đồng
  Miền Trung được mùa cá biển
  Cà Mau: Phát triển nuôi cá gắn với thị trường
  Hiệp hội cá ngừ Phú Yên chính thức được thành lập
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang