Số lượt truy cập:   572881


BÁO CÁO TỔNG KẾT 2007
Administrator - - 25/02/08-02:36:09

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007 VÀ KẾ HOẠCH NĂM 2008


I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT:

1. Về khai thác thuỷ sản: 

Tình hình khai thác thuỷ sản trong năm qua gặp nhiều khó khăn về giá xăng dầu tăng cao, tình hình thời tiết không thuận lợi vào các tháng cuối năm, nhiều cơn bão cùng áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên biển đã ảnh hưởng đến thời gian bám biển đánh bắt của ngư dân. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm dày dặn, lâu năm về lĩnh vực đánh bắt thủy sản của bà con ngư dân, sản lượng thủy sản đánh bắt được trong năm đạt cao hơn so với năm trước.

- Những tháng đầu năm do được mùa nên sản lượng thủy sản các loại đánh bắt được tương đối cao. Sản lượng cá cơm đánh bắt được trong năm đã đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu đáng kể cho hoạt động chế biến nước mắm. Nổi bật nhất là các đối tượng như cá ngừ đại dương, cá ngừ tròn, cá thu, cá hố… sản lượng đánh bắt được tương đối cao, đời sống bà con ngư dân được cải thiện rõ rệt.

          - Sản lượng thủy sản khai thác trong năm 2007 đạt 66.872 tấn các loại, bằng 102% so với kế hoạch tỉnh giao là 65.800 tấn và bằng 102% so với cùng kỳ năm 2006.

- Về tình hình khai thác ven bờ: nhìn chung sản lượng không cao do nguồn lợi giảm, tuy nhiên nghề mành cũng đạt được sản lượng tương đối, nhất là các tháng đầu đến giữa năm. Nghề đầm đăng sản lượng các đầm đều giảm so với năm trước vì thời tiết năm nay không được thuận lợi và do ảnh hưởng hoạt động của các nghề ven bờ.

- Nghề khai thác xa bờ chủ yếu hoạt động ở ngư trường xa, gồm các nghề giả đôi, lưới cản, vây, câu khơi. Giá cá ngừ đại dương năm 2007 cao ổn định quanh năm, tuy nhiên do sản lượng giảm nên đã số ngư dân phải tổ chức đánh bắt tận các ngư trường giáp ranh các nước lân cận, một số chuyển sang làm lưới cản. Nghề lưới cản sản lượng năm nay tương đối đạt, nhất là giá cá ngừ sọc dưa cao hơn trước. Nghề giả cào đôi, lưới vây chủ yếu hoạt động ngư trường phía  Nam, sản lượng tương đối.

- Về lực lượng tàu thuyền: toàn ngành có 6362 chiếc thuyền gắn máy với tổng công suất 218.935CV, bình quân 34,5CV/tàu, trong đó tàu đánh bắt xa bờ trên 90CV là 504 chiếc với tổng công suất 80.567CV, bình quân 159,8CV/tàu. Số lượng tàu thuyền đóng mới trong năm 2007 là 45 chiếc với tổng công suất              3.775CV, bình quân 84CV/tàu.

          - Hoạt động bảo vệ  nguồn lợi được đẩy mạnh, tăng cường công tác kiểm ngư, đăng kiểm tàu cá, công tác giáo dục ngư dân thực hiện bảo vệ nguồn lợi và Chỉ thị 01/1998/CT- TTg của Thủ tướng Chính Phủ về việc cấm sử dụng chất nổ, chất độc xung điện khai thác thuỷ sản nên kết quả có giảm so với các năm trước, một số hộ hành nghề đánh bắt bằng chất nổ, chất độc, xung điện đã có hướng chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản. Sở Thuỷ sản đã duy trì tổ chức họp Ban chỉ đạo Chỉ thị 01 thường xuyên, phân công thực hiện trên cơ sở phối hợp các cơ quan liên quan như Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Sở Văn hoá Thông tin để phối hợp triển khai các nhiệm vụ tuyên truyền, tuần tra kiểm soát, đồng thời triển khai thực hiện sự phối hợp của các cơ quan liên quan trong tổ chức kiểm tra, kiểm soát  nên công tác phối hợp đã có hiệu quả thiết thực trong lĩnh vực quản lý tàu thuyền, an ninh trên biển, kiểm tra phương tiện người và các điều kiện bảo đảm an toàn sản xuất trên biển, phối hợp trong công tác cứu hộ, phòng chống thiên tai.

           - Về công tác đăng ký tàu cá thiếu hồ sơ gốc: đã tổ chức cấp giấy đăng  ký xong cho 1.086 chiếc và đã làm xong thủ tục kiểm tra để cấp giấy 339 chiếc trên tổng số 2.416 chiếc. 

- Có thể nói việc tiêu thụ sản phẩm đánh bắt của bà con ngư dân rất thuận lợi vì có nhiều nhà máy chế biến với nhu cầu mua rất cao. Tuy nhiên sản lượng đánh bắt vẫn không đủ cung ứng cho ngành chế biến, do vậy một số nhà máy phải chủ động mua thêm nguyên liệu từ các tỉnh ngoài, nước ngoài.

- Chương trình khai thác xa bờ đa số có hiệu quả, đời sống ngư dân được nâng cao. Bên cạnh vẫn còn một số chủ tàu làm ăn kém hiệu quả do năng lực yếu hoặc gặp sự cố về thiên tai…, việc thu hồi nợ rất khó khăn. Để sử lý vấn đề này, Sở đã phối hợp với các ngành liên quan, đề xuất các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt cơ chế bán những tầu tàu xa bờ chây ỳ trong việc trả nợ cho chủ tàu khác có đủ điều kiện theo hình thức không qua đấu giá, nhằm giải quyết dứt điểm về nợ vay, đồng thời tổ chức lại sản xuất đánh bắt theo hướng cùng hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chủ trương chung của nhà nước về ưu đải hỗ trợ cho tàu đánh bắt xa bờ, hỗ trợ nhau trên biển một cách có hiệu quả cao. 

2. Về nuôi trồng thuỷ sản: 

a) Diện tích nuôi trồng thuỷ sản:

Tổng diện tích sử dụng nuôi trồng các đối tượng thuỷ sản chủ yếu  là 9.829 ha, trong đó nuôi thuỷ sản nước ngọt khoảng 1.076 ha; nuôi thuỷ sản nước lợ là 5.068 ha; nuôi mặt nước biển ven bờ là 3.685 ha (gồm 2.000 ha nuôi tôm hùm lồng, cá mú, cá bớp, cá hồng, cá chẽm... ở các vùng biển ven bờ của vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh; 1.300 ha nuôi ngọc trai, 200 ha nuôi nhuyển thể và 185 ha trồng rong biển). 

b) Nuôi thủy sản lồng bè: 

         Tổng số lồng bè thả nuôi trong năm 2007 là 27.926 lồng, trong đó nuôi tôm hùm thương phẩm 26.926 lồng, ương tôm hùm con 200 lồng và nuôi cá biển 800 lồng.

 c) Sản xuất giống thủy sản:

 - Về sản xuất tôm giống: Do tình hình sản xuất giống tôm sú phát triển nhiều tại các tỉnh miền Trung và một số tỉnh khu vực Nam bộ, đồng thời giá tôm sú thịt ổn định không tăng, nên giá bán tôm sú giống không cao như trước, bên cạnh đó còn phải cạnh tranh nhiều với các tỉnh bạn nên hoạt động sản xuất giống tôm sú thu hẹp dần. Hầu hết các trại sản xuất tôm sú giống đều thuộc thế hệ trại đầu tiên đến nay đã xuống cấp, cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa phát triển nên phần lớn các trại bị giải tỏa hoặc ngưng hoạt động(qua thống kê cho thấy chiếm 55% tổng số trại). Năm 2007, toàn tỉnh chỉ còn 559 trại hoạt động, tổng số tôm giống sản xuất được 2.090 triệu con post.

Ngoài ra một số trại sản xuất tôm sú giống do không có hiệu quả đã chuyển đổi sang sản xuất tôm chân trắng, ốc hương giống, giống cua, ghẹ, tôm càng xanh...

- Về sản xuất giống thủy sản nước ngọt: Hiện nay, Khánh Hoà chỉ có 2 cơ sở sản xuất giống thủy sản nước ngọt, một cơ sở sản xuất giống cá nước ngọt ở xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hoà( của Trường Đại học Nha Trang), đối tượng sản xuất chủ yếu là cá trắm, cá trôi, cá mè, cá chép, rô phi đơn tính, diêu hồng; cơ sở còn lại sản xuất giống tôm càng xanh trong môi trường nước lợ (độ mặn 12%0) tại thôn Ninh Tịnh, xã Ninh Phước, huyện Ninh Hòa.

- Về sản xuất giống cá biển: Hiện tại có 4 đơn vị sản xuất giống cá biển, đó là Công ty TNHH Hoằng Ký đầu tư 100% vốn nước ngoài, chuyên sản xuất giống các loài cá mú, cá hồng, cá bớp; Đại học Nha Trang; Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 và Công ty TNHH Hải Tiến. Ngoài ra còn có một số cơ sở khác chỉ ương từ bột lên thành giống. 

- Nhìn chung nghề sản xuất giống thủy sản đang đòi hỏi phải phát triển đa dạng, chủ động về công nghệ để sản xuất được nhiều loài, nhất là các loài nuôi có hiệu quả cao. Năm 2007, Sở Thủy sản đang triển khai nhiều đề tài để phục vụ cho yêu cầu này như sản xuất giống tu hài, cá hồng mỹ, cá khoang cổ đỏ.

d) Về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản:

Sản lượng khai thác và nuôi trồng nội địa năm 2007 đạt 24.765 tấn các loại, bằng 101% so với kế hoạch năm và tăng 28% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó: 

- Sản lượng tôm thịt đạt 6.436 tấn, tăng 36% so với kế hoạch tỉnh giao là 4.740 tấn, và tăng 50% so với cùng kỳ năm 2006.

- Sản lượng tôm hùm đạt 863 tấn, bằng 70% so với kế hoạch tỉnh giao là 1.230 tấn và bằng 78% so với cùng kỳ năm 2006.

- Sản lượng cá đạt 5.798 tấn (trong đó cá nước ngọt là 600 tấn, cá biển là 5.198 tấn), tăng gấp 3 lần so với kế hoạch tỉnh giao là 2.160 tấn (trong đó cá nước ngọt là 600 tấn, cá biển là 1.560 tấn) và vượt 85% so với cùng kỳ năm 2006.

          - Sản lượng nhuyễn thể đạt 2.708 tấn(trong đó Vẹm xanh khoảng 2.520 tấn, ốc hương khoảng 188 tấn), bằng 90% so với kế hoạch tỉnh giao là 3.000 tấn và tăng 59% so với với cùng kỳ năm 2006.

          - Sản lượng rong sụn tươi đạt 5.360 tấn, sản lượng rong biển khác năm 2007 thu hoạch được trên 3.000 tấn), bằng 54% so với kế hoạch tỉnh giao là 10.000 tấn và bằng 50% so với cùng kỳ năm trước.

          - Riêng chỉ tiêu về sản lượng thủy sản khác(cua, ghẹ, ốc, sò….) trong kế hoạch năm 2007 của tỉnh giao không có nội dung này. Năm 2007 sản lượng đạt 3.600 tấn, bằng 103% so với kế hoạch là 3.500 tấn và bằng 120% so với cùng kỳ năm 2006.

- Tình hình nuôi tôm sú thịt, tôm chân trắng trong năm đạt khá, ít dịch bệnh, người nuôi đa số có lãi. Môi trường ao nuôi sau 1 thời gian không nuôi hoặc nuôi thưa nên dần dần đã được phục hồi. Bên canh đó năm nay mưa nhiều cũng tạo điều kiện thuận lợi, làm sạch môi trường ao nuôi trong vụ tiếp theo.

- Nghề nuôi cá chẽm hiện đang phát triển mạnh, một số ao nuôi tôm do bị ô nhiểm đã chuyển sang nuôi cá chẽm và có hiệu quả, kéo theo nghề sản xuất giống cá chẽm cũng phát triển mạnh ở Khánh Hòa trong năm nay để cung cấp giống cho ngư dân trong và ngoài tỉnh.

- Các đối tượng khác như cá mú cọp, cá hồng, chim trắng, bào ngư.. có giá bán cao đã thu hút được người nuôi đầu tư phát triển với qui mô rộng.

- Nghề nuôi ngọc trai tại vịnh Vân Phong do nước ngoài đầu tư phát triển tốt làm động lực cho ngư dân Việt Nam mạnh dạn đầu tư vốn nuôi thử nghiệm tại vịnh Nha Trang trong thời gian gần đây. 

          - Trong năm 2007, dịch tôm hùm chết đã xảy ra ở khắp các địa phương trong tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh miền Trung. Để giải quyết vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Cục Quản lý chất lượng an toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản tổ chức phối hợp với Sở Thủy sản các tỉnh, các Viện, Trường, chính quyền địa phương… nhằm tìm ra nguyên nhân, biện pháp khắc phục, phòng ngừa sự cố trên. Cho đến nay, về cơ bản đoàn kiểm tra đã tìm ra được nguyên nhân gây tôm hùm chết.

3. Về chế biến thuỷ sản:

- Trong năm qua, mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn từ việc EU tổ chức thanh tra điều kiện sản xuất nghề cá của tỉnh Khánh Hòa; việc Nhật Bản liên tục cảnh báo và kiểm tra 100% các lô tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra những quy định khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm là nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, nhưng xuất khẩu thủy sản tỉnh Khánh Hòa vẫn tiếp tục tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ, với tổng sản phẩm chế biến xuất khẩu đạt 52.000 tấn các loại, bằng 106% so với kế hoạch tỉnh giao là 49.000 tấn và bằng 104% so với cùng kỳ năm 2006. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 265 triệu USD, bằng 102% so với kế hoạch tỉnh giao là 260 triệu USD và bằng 102% so với cùng kỳ năm 2006.

Song cũng cần phải nhìn nhận trên thực tế sự khắc khe của thị trường Nhật Bản còn có thể là rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp của chúng ta phải lường trước khi thâm nhập vào thị trường khó tính này trong giai đoạn tới.

- Về năng lực sản xuất, hầu hết các nhà máy cũ của Khánh Hòa trước đây đều đã đầu tư, nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp ngành, ngoại trừ một số nhà máy thuộc diện phải di dời. Sự đầu tư mạnh cơ sở hạ tầng nhà xưởng, máy móc thiết bị đồng bộ của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu đã tạo cơ sở vững vàng cho việc chế biến nhiều mặt hàng đa dạng từ đông lạnh đến đồ hộp…. có giá trị gia tăng cao được bày bán trực tiếp tại siêu thị. Đây chính là thế mạnh để các doanh nghiệp chế biến của tỉnh Khánh Hòa có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp ở tỉnh khác trong việc thu hút nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu và các lĩnh vực khác.

          - Tình hình tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu tại Khánh Hoà trong năm qua khá tốt, hầu hết các nhà máy đều có thêm nhiều hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, tuy nhiên vấn nguyên liệu vẫn là bài toán nan giải của các doanh nghiệp trong các năm qua.

          - Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, sau hơn 1 năm thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, ngành Thủy sản Khánh Hòa vẫn tiếp tục phát triển ổn định, nhất là lĩnh vực xuất khẩu, đây chính là kết quả của sự vững vàng, nhạy bén của các doanh nghiệp, sự chỉ đạo sáng suốt của các cấp lãnh đạo Bộ, ngành Trung ương và địa phương. Chính sách về thuế nhập khẩu nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến xuất khẩu đang được Chính phủ đưa vào nội dung cần xem xét lại để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp. Các tiêu chuẩn áp dụng trong ngành Thủy sản đang được rà soát lại, chỉnh sữa bổ sung cho phù hợp tình hình thực tiển của Việt Nam và quy định quốc tế.

          - Về cơ cấu thị trường xuất khẩu: thị trường Nhật chiếm tỉ lệ khoảng 35%, Mỹ khoảng 30%, thị trường EU kim ngạch xuất khẩu thấp khoảng 10%, thị trường châu Á khoảng 15%, thị trường khác khoảng 10%.

- Sản phẩm tiêu dùng nội địa như các mặt hàng hải sản khô, đông lạnh. được thị trường trong nước ưa chuộng, nhất là mặt hàng nước mắm Nha Trang đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu mang tên địa phương nước mắm Nha Trang. Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, sản phẩm chế biến nội địa cần phải sản xuất đa dạng phong phú, đảm bảo chất lượng để phục vụ tiêu dùng và là quà đặc sản lưu niệm cho khách du lịch khi đến Nha Trang.

- Năm 2007, sản lượng hàng khô các loại đạt 3.100 tấn, đạt 113% so với kế hoạch năm là 2.750 tấn và bằng 124% so với cùng kỳ năm 2006. Sản lượng nước mắm đạt 8 triệu lít, bằng 103% so với kế hoạch năm là 7,7 triệu lít và bằng 113% so với cùng kỳ năm 2006.

          - Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch khu chế biến thủy sản nội địa đã được củng cố, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát, kiểm tra, đôn đốc các cơ sở chế biến trong việc thực hiện các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm.     

II/. CÁC NHIỆM VỤ KHÁC:

1. Bảo vệ nguồn lợi thủy sản:

- Kiểm tra, gia hạn tàu cá>20CV được 1.641 chiếc, bằng 103% so với kế hoạch đề ra là 1.600 chiếc và bằng 115% so với cùng kỳ năm 2006.

- Thực hiện giám sát đóng mới được 45 chiếc, bằng 64% so với kế hoạch năm là 70 chiếc.

- Kiểm tra và cấp giấy tờ đăng ký tàu cá cho 709 tàu cá thiếu hồ sơ gốc, bằng 118% so với kế hoạch là 600 tàu cá.

- Kiểm tra và cấp giấy phép khai thác thủy sản cho 2.182 tàu cá, bằng 136% so với kế hoạch là 1.600 tàu cá.

2. Công tác quản lý chất lượng giống và vệ sinh thú y thủy sản:

- Thực hiện kiểm dịch được 850 triệu con tôm post, bằng 65% so với kế hoạch năm là 1.300 triệu con.

- Kiểm tra mẫu tôm thả nuôi, mẫu nước được 700 mẫu, bằng 100% so với kế hoạch năm là 700 mẫu.

- Kiểm tra điều kiện vệ sinh thú ý thủy sản các cơ sở sản xuất, ương, nuôi con giống thủy sản được 150 cơ sở, bằng 88% so với kế hoạch đề ra là 170 cơ sở.

- Kiểm tra điều kiện về sinh thú ý các cơ sở kinh doanh thức ăn thú y và chế phẩm sinh học được 50 cơ sở, bằng 94% so với kế hoạch là 53 cơ sở.

3. Công tác thanh tra, kiểm tra:

Kết quả thực hiện của công tác thanh tra năm 2007 như sau:

- Về công tác thanh tra chuyên ngành: đã tiến hành kiểm tra 1.150 lượt về việc chấp hành qui định của pháp luật đối với các phương tiện tàu cá; Kiểm tra việc chấp hành qui định của pháp luật đối với 110 cơ sở sản xuất giống thủy sản; Thanh tra, kiểm tra 106 cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn, thý y thủy sản. Tuần tra, kiểm soát nghề cấm trên biển được 317 lượt. Xử phạt vi phạm hành chính theo qui định 540 trường hợp(trong đó phạt cảnh cáo là 120 trường hợp; phạt tiền 420 trường hợp với số tiền hơn 182 triệu đồng).

- Về công tác thanh tra, khiếu nại tố cáo: trong năm 2007 Thanh tra hành chính nhận được 07 đơn khiếu nại, trong đó có 04 trường hợp không thuộc thẩm quyền của đơn vị, 03 trường hợp còn lại Thanh tra đã tham mưu lãnh đạo Sở trả lời và giải quyết dứt điểm không để tồn đọng.

- Về công tác chống tham nhũng, lãng phí: trong năm 2007 trong ngành không xảy ra trường hợp nào vi phạm về tham nhũng.

- Về công tác thanh tra hành chính: đã tiến hành và kết thúc 01 cuộc thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ và công tác chấp hành chế độ quản lý nhà nước tại Trung tâm Khuyến Ngư Khánh Hòa. Nhìn chung đơn vị đã cháp hành tốt các qui định của pháp luật.

4. Công tác khuyến ngư:

- Về tập huấn, hội nghị: tổ chức được 21 lớp/21 lớp so với kế hoạch cho 875 lượt người; 14/14 lớp cho 739 lượt người theo hợp đồng với Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia. Tổ chức 12/14 cuộc hội thảo theo kế hoạch cho 535 người. Bên cạnh đó trong năm Trung tâm đã phối hợp với Công ty TNHH Hữu Tín tổ chức hội thảo nuôi tôm theo phương pháp sinh học cho hơn 100 đại biểu.

- Về triển khai xây dựng mô hình: Trong năm 2007 bằng nguồn kinh phí sự nghiệp của tỉnh đã triển khai được 8/8 điểm mô hình theo kế hoạch(gồm mô hình nuôi cá Chẽm lồng biển; mô hình ương cá Bớp; nuôi ngao; nuôi hải sâm kết hợp tôm sú thương phẩm; nuôi cá rô phi; nuôi cá lóc trên bạt). Song song đó bằng nguồn kinh phí hợp đồng với Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã triển khai được 05 mô hình về nuôi cá Mú trong ao đất; nuôi cá chẽm lồng biển; cá mú cọp lồng biển; cá giò lồng biển. 

- Về thông tin tuyên truyền: trong năm đã thực hiện 36 chương trình thông tin cần thiết cho nuôi trồng thủy sản trên Đài PTTH Khánh Hòa; 01 kỳ chuyên mục Nông nghiệp- Nông thôn về nội dung nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra còn thực hiện 18/18 chương trình thông tin khuyến ngư theo kế hoạch trên Đài PTTH huyện.

- Công việc khác: Phối hợp với Viện nghiên cứu NTTS 3 để cung cấp thông tin và phối hợp quan trắc, cảnh báo môi trường dịch bệnh thủy sản cho ngư dân, xét nghiệm bệnh tôm và môi trường cho người nuôi tôm.

5. Công tác nghiên cứu, ứng dụng:

Trong năm qua ngành đang thực hiện một số đề tài khoa học cấp tỉnh nhằm đẩy mạnh phát triển ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản, cụ thể như:

- Nghiên cứu nguồn lợi và các giải pháp khai thác hợp lý loài Móng tay (Solen sp.) và Giá biển (Lingula sp.) tại đầm Thủy Triều - Cam Ranh.

- Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775) tại Nha Trang - Khánh Hòa.

- Sản xuất giống cá hồng bạc.

- Ứng dụng công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi đơn tính ở Khánh Hoà.

6. Hoạt động công đoàn:

* Công tác tuyên truyền giáo dục:

- Trong năm 2007, Công đoàn ngành đã phối hợp Ban an toàn giao thông tỉnh, Trung tâm phòng chống AID tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh mở 03 lớp An toàn Giao thông, 01 lớp phòng chống HIV tại nơi làm việc. Tổ chức được 04 lớp học năm bài học chính trị cơ bản cho công nhân viên chức liên đoàn với hơn 1.200 lượt người tham dự.

- Cùng với việc nâng cao trình độ chính trị, vấn đề nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn được công đoàn quan tâm đúng mức và tạo điều kiện để người lao động tham gia, học tập. Điển hình là Công ty CP Nha Trang Seafood F17; XN Khai thác và dịch vụ Thủy sản Khánh Hòa; TT Quản lý và Khai thác các công trình thủy sản Khánh Hòa; Văn phòng Sở Thủy sản và một số các đơn vị trực thuộc Sở.. đã thực hiện tốt nội dung này.

- Tổ chức các hội thao với quy mô lớn để mừng kỷ niệm 48 năm ngày truyền thống Nghề cá Việt Nam(1/4/1959 đến 1/4/2007); 78 năm ngày thành lập Công đoàn Việt nam và kỷ niệm Quốc khánh 2/9.

* Phong trào thi đua:

Kết quả triển khai công tác thi đua năm 2007 như sau:

- Toàn ngành đăng ký 150 Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở; 35 Chiến sĩ thi đua cấp ngành; 05 Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh; 01 Chiến sĩ thi đua cấp toàn quốc.

- Công đoàn ngành đăng ký đạt danh hiệu vững mạnh, các CĐCS thuộc ngành đạt loại vững mạnh xuất sắc chiếm 85%, loại vững mạnh chiếm 10% và loại khá, trung bình chiếm 5%.

- 100% đơn vị đăng ký cơ quan Xanh- Sạch- Đẹp- An toàn vệ sinh lao động.

- Phong trào thi đua có sáng kiến cải tiến kỹ thuật đăng ký là 10(có 2 sáng kiến được Tổng liên đoàn tặng Bằng khen lao động sáng tạo).

* Tham gia các hoạt động xã hội:

Trong năm qua, công tác xóa đói giảm nghèo đã được Công đoàn ngành thực hiện đầy đủ và có chiều sâu, kết quả như sau:

- Ủng hộ quỹ từ thiện xã hội với số tiền 20 triệu đồng.

- Ủng hộ quỹ xóa đói giảm nghèo với số tiền trên 100 triệu đồng.

- Ủng hộ quỹ Mái ấm công đoàn Khánh Hòa với số tiền trên 20 triệu đồng.

- Tổ chức ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, tết trung thu với số tiền 76 triệu đồng.

- Ủng hộ các nạn nhân tại vụ sập cầu Cần Thơ với số tiền 25 triệu đồng.

- Đóng góp quỹ Nhân đạo nghề cá 15 triệu đồng.

- Duy trì quỹ tương thân tương ái trong nữ đoàn viên công đoàn ngành với số tiền 100.650.000 đồng. Trong năm qua đã giải quyết cho 50 chị em ở các công đoàn cơ sở mượn để phát triển kinh tế gia đình với số tiền 95 triệu đồng. Ngoài ra ở các công đoàn cơ sở đều có quỹ tương thân tương ái của công đoàn với số tiền 180 triệu đồng, nhằm cho đoàn viên vay để giải quyết khó khăn đột xuất của các chị em.

III/. ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN:

1. Các dự án được đầu tư bằng nguồn NSTƯ:

- Dự án Nạo vét lòng sông Tắc Nha Trang(giai đoạn1) làm khu neo đậu tránh trú bão tàu thuyền cấp vùng với tổng mức đầu tư 89,787 tỷ đồng, vốn đã được cấp đến năm 2007 là 40 tỷ và bổ sung năm 2007 là 20 tỷ đồng. Công trình sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng đầu năm 2008, vốn còn thiếu để thanh toán cho đơn vị thi công là 29,787 tỷ đồng.

- Dự án Nâng cấp bến cá Đá Bạc, thị xã Cam Ranh: tổng mức đầu tư của dự án là 20,124 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Chương trình biển đông và Hải đảo là 15,974 tỷ đồng, vốn đã cấp đến 31/12/2007 là 12,395 tỷ đồng, công trình sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng đầu năm 2008, vốn còn thiếu để thanh toán cho đơn vị thi công là 3,579 tỷ đồng.

          - Dự án Vùng sản xuất và kiểm định tôm sú giống tập trung Ninh Vân, huyện Ninh Hoà, tổng mức đầu tư là 58,236 tỷ đồng, vốn được cấp đến năm 2006 là 196 triệu đồng. Hiện đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng dự án.

          - Dự án Đường cơ động và bến cập tàu xã Đảo Cam Bình, thị xã Cam Ranh, được đầu tư bằng nguồn vốn Chương trình biển đông và hải đảo, tổng mức đầu tư của dự án là 93,416 tỷ đồng, vốn được cấp trong năm 2007 là 500 triệu. Vốn còn thiếu để triển khai thi công xây dựng dự án là 92,916 tỷ đồng.

- Dự án Thủy lợi hóa vùng nuôi tôm sú thịt Ninh Lộc, huyện Ninh Hòa hiện đang trong giai đoạn khảo sát và lập dự án.

- Ngoài ra còn có các dự án khác như Đường vào vùng sản xuất và kiểm định tôm sú giống tập trung Cam Lập (giai đoạn 1 và 2); Chợ thủy sản Nam Trung Bộ đang trong giai đoạn nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng vào đầu năm 2008.

2. Các dự án được đầu tư bằng nguồn NSĐP:

- Dự án CSHT khu dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Hòn Ông, tổng mức đầu tư là 166 tỷ đồng, vốn được cấp đến năm 2007 là 15 tỷ đồng, vốn còn thiếu để hoàn thành dự án là 151 tỷ đồng.

          - Đề án Qui hoạch phát triển ngành thuỷ sản Khánh Hoà đến 2015, có tính đến năm 2020, tổng mức đầu tư là 300 triệu đồng, vốn được cấp đến năm 2007 là 100 triệu đồng, vốn còn thiếu để hoàn thành đề án là 200 triệu đồng. Dự kiến sẽ hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đầu năm 2008.

- Dự án Qui hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vùng mặt nước vịnh Nha Trang và thị xã Cam Ranh đã thực hiện xong và bàn giao đưa vào sử dụng trong năm 2007.

IV/. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1. Mặt làm được:

- Sản lượng thủy sản khai thác tương đối cao, ổn định và đi vào công nghệ khai thác các ngừ các loại, 3 tỉnh Khánh Hoà, Bình Định, Phú Yên đã xây dựng được thương hiệu cá ngừ.

- Về nuôi trồng đã có đối tượng nuôi mới tạo điều kiện để các doanh nghiệp và hộ ngư dân chuyển đổi đối tượng nuôi, góp phần phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản về kinh tế và môi trường.

- Chế biến thủy sản xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng cả về số lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu. Cơ cấu sản phẩm và thị trường xuất khẩu phát triển ổn định, bền vững.

- Tuy mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động tháng 3 năm 2007, nhưng hoạt động Thanh tra Sở về công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng giống thủy sản, thuốc thú y thủy sản… được duy trì thường xuyên và đạt kết quả khá tốt.

2. Mặt tồn tại:

- Cùng với việc sắp xếp các đơn vị trực thuộc trong năm qua, biên chế các đơn vị thiếu nhiều, cơ sở vật chất chưa đầy đủ dân đến khi triển khai công việc chuyên môn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, hiệu quả đem lại chưa cao.  

          - Đầu tư xây dựng thủy lợi hoá vừa và nhỏ cho nuôi trồng thủy sản chưa có nguồn vốn đầu tư. Chưa xây dựng mô hình nuôi biển với quy mô sản xuất hàng hoá với công nghệ cao.

          - Chưa có con giống nhân tạo của một số đối tượng hải đặc sản như tôm hùm, cá mú... Nguồn giống tôm hùm phụ thuộc vào tự nhiên nên giá quá cao và không chủ động được thời gian nuôi; cá mú cọp có hiệu quả kinh tế cao nhưng giống phải nhập khẩu từ nước ngoài.

          - Đặc biệt là bệnh tôm hùm xảy ra trên diện rộng của tỉnh đã gây thiệt hại lớn cho người nuôi tôm hùm lồng trong năm qua.

          - Những hàng rào kỹ thuật và thương mại ngày càng chặt chẽ, với các quy định về dư lượng kháng sinh, về truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản, về kiểm dịch vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp thủy sản hiện nay.

          - Ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm của đa số ngư dân khai thác, các chủ vựa thủy sản và cơ sở, gia công chế biến chưa cao. Hầu hết đều dùng Chloramphenil thay nước đá ướp thủy sản vì giữ tươi rất lâu lại rẻ hơn rất nhiều dùng nước đá, tuy nhiên chất kháng sinh này rất độc hại cho sức khỏe con người.

V/. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NĂM 2008:

Chỉ tiêu chính: (xem phụ lục)

          - Tổng sản lượng thuỷ sản: 88.800 tấn các loại, trong đó:

                   + Sản lượng khai thác      : 67.000 tấn

                   + Sản lượng nuôi trồng    : 21.800 tấn

          - Sản lượng tôm thịt                  :   6.000 tấn

- Sản lượng tôm hùm                 :      800 tấn

- Sản lượng giống thủy sản        :   3.500 triệu con

- Sản phẩm chế biến xuất khẩu  : 55.000 tấn

          - Tổng kim ngạch xuất khẩu      : 280 triệu USD

          - Sản lượng nước mắm              : 8,2 triệu lít

          - Sản lượng hàng khô các loại    : 3.200 tấn

VI/. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT:

1. Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

          - Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu hoàn chỉnh các quy trình sản xuất giống tôm hùm, cá mú.. chỉ đạo chuyển giao các công nghệ sản xuất giống, các đề tài cấp nhà n­ước đã nghiên cứu thành công cho địa ph­ương để ứng dụng phát huy hiệu quả.

          - Quan tâm chỉ đạo việc quan trắc môi trư­ờng nuôi để thông báo th­ường xuyên cho địa ph­ương biết thực hiện.

          - Chỉ đạo việc quản lý giống chặt chẽ để cung cấp giống sạch bệnh cho ngư­ời nuôi. Nghiên cứu phòng và chữa trị hiệu quả các bệnh tôm hùm và các đối tư­ợng thủy sản khác mà ng­ười dân đang nuôi.

          - Triển khai ký kết các hiệp ư­ớc quốc tế, hiệp ư­ớc song ph­ương liên quan đến công tác đánh bắt, nhập khẩu nguyên liệu, xuất khẩu thủy sản... trư­ớc mắt giải quyết việc xuất khẩu cá ngừ đại d­ương, cá cờ, cá kiếm vào thị trư­ờng Tây ban Nha, hiện cơ quan đại diện Tây Ban Nha từ chối chứng thư­ ICCAT của Việt Nam, nhiều lô sản phẩm thủy sản của Việt Nam phải bị trả về với lý do “ Việt Nam không phải là thành viên của Ủy ban Nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.

          - Tạo cơ chế thông thoáng hơn trong việc nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu, giảm thuế nhập khẩu và thủ tục kiểm tra đối với các lô nguyên liệu đã đựơc nư­ớc ngoài kiểm tra. 

          - Chuyển đổi các tiêu chuẩn ngành Thủy sản phù hợp với Nghị định 127/2007/NĐ- CP ngày 1/8/2007 Nghị định “ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật.

          - Kiểm tra chứng nhận an toàn vệ sinh tàu cá nên kết hợp việc kiểm tra đăng kiểm tàu cá để thuận lợi hơn cho ng­ư dân và cơ quan kiểm tra trong việc triển khai (do không có qui định xử phạt đối với chủ tàu cá khi không có giấy chứng nhận vệ sinh tàu cá, bên cạnh đó khi kiểm tra chủ tàu phải nộp phí, do đó chủ tàu không chủ động mời kiểm tra ATVS tàu cá và cán bộ Chi Cục BVNL Thủy sản triển khai gặp khó khăn). 

          - Đối với khối tàu vay vốn thuộc ch­ương trình đánh bắt xa bờ, kính đề nghị Bộ phối hợp với các cơ quan chuyên môn trình Chính phủ phê duyệt cho phép xóa nợ phần lãi vay, chủ dự án chỉ thực hiện trả phần vốn vay cho nhà nước. 

         - Quan tâm cấp đủ vốn để thanh toán các dự án đã hoàn thành và ghi vào danh mục đầu tư các dự án do Trung ư­ơng đầu tư­ để chuẩn bị khởi công vào năm 2008.

2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa:

          - Kính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm hỗ trợ vốn để thực hiện các dự án đầu t­ư trong năm 2008 và các năm tiếp theo.

                                                                                     GIÁM ĐỐC

 







CÁC TIN KHÁC
  Thuận quản lý nhưng chuyển đổi nghề không dễ
  Âu tàu Trường Sa: Khắc phục sự cố cho tàu cá Phú Yên
  Hải quân Việt Nam - Điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển
  Việt Nam sắp có chương trình dự báo ngư trường
  Kiên Giang: Tích cực trong cuộc chiến chống IUU
  Trung quốc sẽ kiểm tra các trại nuôi Thủy sản trên toàn quốc
  Sản lượng khai thác thủy sản VN 9 tháng đầu năm 2007
  Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kiểm soát hóa chất , kháng sinh cầm trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản thủy sản sau thu hoạch.
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang