Số lượt truy cập:   576409


Những thay đổi trong công nghệ khai thác thủy sản ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 02/07/10-09:37:42

Trong bối cảnh phát triển chung trong nhiều lĩnh vực và dưới áp lực của gia tăng dân số và sự suy giảm nguồn lợi thì công nghệ khai thác thủy sản đã trải qua những chuyển biến lớn trong những thập kỷ qua và đặc biệt là trong những năm gần đây. Sự thay đổi này đã ảnh hưởng đến việc sử dụng và quản lý nguồn lợi thủy sản trên đầm phá. Bài viết này trình bày những thay đổi liên quan đến công nghệ khai thác thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai trên cơ sở tổng hợp thông tin từ các đề tài nghiên cứu


Bức tranh toàn cảnh

Khai thác thủy sản là một nghề truyền thống đối với cộng đồng ngư dân ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên - Huế nơi mà nghề khai thác được xem  là một nghề thủ công quy mô nhỏ và mang tính tự cung tự cấp (Berkes et al., 2001). Nghề này cũng được cho là một nghề rất phổ biến ở các nước nhiệt đới với hình thức khai thác đa loài và đa nghề. Ngư dân có thể sử dụng một hoặc nhiều loại ngư cụ tùy theo vị trí và mùa vụ khai thác (Berkes et al., 2001). Khai thác thủy sản phần lớn được thực hiện ở vùng đầm phá nhưng ở một vài địa phương ngư dân còn khai thác ở sông và khai thác xa bờ (NACA, 2006).  Ở Tam Giang có hơn 30 loại ngư cụ đã và đang được ngư dân sử dụng để khai thác tôm, cua, cá và nhuyễn thể (Miên, 2006). Các ngư cụ này có thể được chia làm hai nhóm gồm ngư cụ khai thác cố định và ngư cụ khai thác di động. 

Từ khi xuất hiện, nghề khai thác thủy sản ở đầm phá đã trải qua nhiều thay đổi. Từ thời xa xưa, ngư dân sử dụng những công cụ thô sơ như dao chém, chĩa đâm để bắt tôm cá. Qua thừa kế và bằng kinh nghiệm thực tế ngư dân đã chế tạo những công cụ đơn từ giản nhưng hiệu quả hơn như nơm úp, cần câu đến những ngư cụ tinh xảo hơn như xà róc, lừ, chẹp, vó, chài, lưới, tễ, nò sao, đáy, dạy... và đến nay thì nhiều ngư cụ cho năng suất khai thác cao đã được bày bán sẵn trên thị trường. Ngư cụ phổ biến trên thị trường hiện nay là những ngư cụ cải tiến bằng sợi tổng hợp kết hợp acqui và động cơ đẩy đã làm thay đổi rất lớn số lượng và chủng loại các ngư cụ trên đầm phá. 

Ngư dân cải tiến ngư cụ theo hướng ngày càng mất tính chọn lọc với mục đích tăng sản lượng và năng suất khai thác, trong đó có một số nghề cấm sử dụng như nghề xiếc điện. Các nghề mang tính chọn lọc rất cao như nghề tễ, nghề dạy hoàn toàn biến mất trên đầm phá Thừa Thiên - Huế từ nhiều năm nay. Thêm vào đó, các nghề như rớ bà, nơm, câu cần, câu vàng... đang dần ít được sử dụng vì không còn đối tượng khai thác và không phù hợp để khai thác trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản không còn dồi dào như trước (Miên, 2006).

Trước năm 2004, chuôm, đáy, nò sáo và lưới là những nghề phổ biến với số lượng ngư cụ lớn và  nhiều hộ sử dụng (Sở Thủy sản, 2004). Các nghề này cũng được cho là những nghề khai thác hiệu quả và cho sản lượng cao hơn so với các nghề khác. Từ năm 2005, ngư dân vùng phá Tam Giang đã sử dụng một nghề khai thác mới rất tiện dụng và cho năng suất cao, đó là nghề lừ Trung Quốc.  Trong khi chính quyền địa phương đang nỗ lực để giảm cường độ và mật độ khai thác bằng chương trình sắp xếp lại nò sáo trên vùng phá Tam Giang thì sự xuất hiện của nghề lừ có nguy cơ gây cản trở đến nỗ lực của địa phương. 

Nghề nò sáo truyền thống

Nò sáo là một nghề truyền thống ở Tam Giang. Đó là một nghề được xem là phổ biến và hiệu quả nhất nhưng lại không có tính chọn lọc. Nghề cố định này được sử dụng ở vùng đầm phá và vùng nước kín ở Đông Nam Á (Fezzardi, 2001, SEAFDEC, 2002). Ở Tam Giang, trước năm 1985 nò sáo được làm hoàn toàn bằng tre. Cơn bão số 8 năm 1985 đã cuốn trôi hầu hết các nò sáo trên đầm phá và kể từ đó ngư dân đã sử dụng vật liệu nylon thay cho tre để làm nò sáo (Sáu and Phương, 2009). Số lượng nò sáo kể từ đó cũng tăng dần cùng với sự gia tăng dân số và sự suy giảm sản lượng khai thác trên một đơn vị nò sáo (NACA, 2006). Đặc biệt sau năm 1985 khi mà nò sáo được làm bằng nylon đã làm giảm chi phí và tăng hiệu quả khai thác thì nò sáo đã mọc nhanh như nấm trên toàn đầm phá. (Sáu and Phương, 2009). Từ 1984 đến 1997 đã có một sự gia tăng đáng kể về lượng nò sáo từ 450 cái lên hơn 2.000 cái. Sau đó số lượng nò sáo giảm nhanh chóng  và gần như không đổi kể từ năm 2003 (Sở Thủy sản, 2007) (Biểu đồ 1)


Biểu đồ 1: Sự thay đổi về số lượng nò sáo giai đoạn 1984-2007

(Nguồn: Sở Thủy sản TTH, 2007)

Số lượng nò sáo giảm là do sự bùng phát của ao vây và ao đất ở vùng thấp triều. Các loại hình ao nuôi thủy sản này đã chiếm một diện tích khá lớn vùng mặt nước mở của đầm phá. Đây cũng là thời kỳ nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh mẽ ở vùng đầm phá và rất nhiều hộ dỡ bỏ nò sáo để lấy mặt nước đắp ao hoặc làm ao vây (Tuân, 2009). Số lượng nò sáo đã giảm gần một nửa so với năm 1997 và kích cỡ cánh sáo và miệng sáo cũng giảm đánh kể từ phổ biến 500m x 200m xuống còn 400m x 180m (Sáu and Phương, 2009). Cho dù đã có sự giảm đánh kể về lượng và kích thước nhưng với hơn 1200 đơn vị nò sáo hiện nay thì tổng diện tích nò sáo chiếm gần 4.200 ha, tương đương khoảng 20% diện tích mặt nước đầm phá. 

Trong năm 2004, chính quyền tỉnh đã phê duyệt kế hoạch tổng về quản lý  khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên - Huế. Theo kế hoạch này thì đến năm 2010 số lượng nò sáo sẽ giảm 50% còn khoảng 500 cái, tương đương với số lượng nò sáo có trong những năm 84 - 85 (Sở Thủy sản TTH, 2004). Tuy nhiên trên thực tế thì đến nay việc sắp xếp nò sáo chỉ mới được thực hiện ở vùng đầm phá huyện Phong Điền và 65 đơn vị nò sáo ở huyện này đã được giải tỏa trong khi đó các huyện khác vẫn đang trong quá trình lập kế hoạch thực hiện.

 Nghề lừ du nhập từ Trung Quốc

Trong khi nò sáo chưa được giải quyết thì sự xuất hiện của lừ đang là vấn đề cần được quan tâm. Lừ là một bẫy liên hoàn với 10 đến 10 bẫy lẽ, có khung bằng kim loại và có thể xếp lại. Lừ là một ngư cụ có nguồn gốc từ Trung Quốc và bắt đầu được ngư dân sử dụng để khai thác thủy sản ở đầm phá từ năm 2005 (Vu, 2009). Lừ được cộng đồng ngư dân sử dụng một cách tự phát mà không thông qua một chương trình khuyến ngư nào. Khác với nò sáo, lừ là một nghề di động và là một nghề đặt ở đáy và rất tiện dụng. Lừ có ngư trường rộng bao gồm thủy đạo, vùng mặt nước mở và mặt nước lân cận các nghề cố định. Thêm vào đó lừ là nghề khai thác hiệu quả, dễ sử dụng, thuận tiện trong vận chuyển, không tốn nhiều công lao động và quan trọng hơn là lừ được bày bán sẵn ở các cửa hàng bán vật liệu phục vụ ngành thủy sản nên ngư dân rất dễ tiếp cận. Tất cả những ưu điểm này đã khiến lừ đang  trở thành một nghề phổ biến nhất hiện nay (Vu, 2009). Kết quả là số lượng lừ đã tăng một cách nhanh chóng trong cộng đồng ngư dân. Theo số liệu của ngành thủy sản được trình bày trong “Hội thảo đánh giá tác động nghề lừ xếp đến môi trường đầm phá Tam Giang - Cầu Hai” ngày  17/4/2009, thì năm 2005 chỉ có 30 hộ tham gia khai thác thủy sản bằng nghề lừ với 100 chiếc cheo lừ. Đến cuối năm 2008 thì có khoảng 2.400 hộ với khoảng 140.000 cheo lừ được sử dụng khai thác trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Kết quả khảo sát một số chi hội nghề cá do nhóm nghiên cứu của dự án quản lý tài nguyên dùng chung cho thấy hiện nay số lượng lừ đang trên đà tăng chậm lại nhưng vẫn chưa có dấu hiện giảm. Nếu tính trung bình mỗi cheo lừ dài khoảng 8m thì tổng chiều dài của số lừ hiện đang được sử dụng trên đầm phá Tam Giang hiện nay là hơn 1.100 km, lớn hơn một nửa chiều dài của đất nước Việt Nam. Con số này cảnh báo một nguy cơ đối với nguồn lợi đầm phá Tam Giang.

 Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực do sự gia tăng nhanh của nghề lừ, đầu năm 2009, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã có công văn chỉ đạo Sở NN&PTNT tiến hành khảo sát thống kê số lượng lừ hiện có, ngăn chặn sự gia tăng về số lượng lừ, và nghiêm cấm việc sử dụng lừ có mắt lưới nhỏ hơn quy định. Mặc  dù các cơ quan liên quan đã có những hành động nhằm giải quyết các vấn đề trên nhưng kết quả vẫn chưa rõ ràng. Hiện nay, vẫn chưa có một con số chính thức nào về số lượng lừ được công bố. Mặt khác, do lừ là nghề cố định và là nghề đặt ở đáy nên rất khó kiểm soát về số lượng và mắc lưới. Khi mới du nhập vào đầm phá thì mắt lưới của lừ phổ biến là 2a=14 mm hoặc 16 mm. Theo thời gian, kích cỡ mắt lưới đã được ngư dân thu nhỏ lại và mắt lưới được sử dụng phổ biến nay là 2a = 8 mm hoặc 10 mm (Vu, 2009).

Việc tăng kích cỡ mắt lưới của lừ nói riêng và các ngư cụ khác nói chung cần có nhiều thời gian và cần phải được làm đồng bộ trên toàn vùng đầm phá. Theo ý kiến của nhiều ngư dân thì cần có lộ trình để khuyến khích (hoặc bắt buộc) ngư dân tăng kích cỡ mắt lưới của lừ, có thể tăng từ 10 mm lên 14 mm, sau đó là 16 mm và dần dần tăng lên 18 mm. Trong khi lực lượng tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản còn hạn chế thì mục tiêu tăng ngay kích  cỡ mắt lưới từ 10 mm lên 18 mm là điều khó thực thi, thay vào đó chính quyền cần áp dụng phương pháp quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng để cộng đồng từng bước khuyến khích nhau tuân thủ quy chế và cải thiện dần vấn đề mắt lưới. Mặc khác, việc tuân thủ quy chế khai thác thủy sản cần được áp dụng đồng bộ trên toàn vùng đầm phá để tránh mâu thuẫn giữa các nhóm sử dụng nguồn lợi. Rất nhiều hộ dân cho rằng nếu chỉ một mình ngư dân xã của họ sử dụng mắt lưới lớn, trong khi ngư dân xã khác lại sử dụng mắt lưới nhỏ hơn thì ngư dân xã của họ sẽ bị thiệt.

Như vậy, đã có những thay đổi và chuyển biến lớn trong công nhệ khai thác ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Sự thay đổi phản ánh sự phát triển về trình độ khai thác đồng thời cũng là những thay đổi tất yếu xảy ra trong bối cảnh sản lượng thu khai thác ngày càng suy giảm. Mặc dù nghề khai thác thủy sản không còn là một nghề độc tôn đối với nhiều hộ làm nghề ngư ở vùng Tam Giang, nhưng theo nhận định của nhiều ngư dân thì trong những vài năm tới nghề nò sáo và nghề lừ vẫn sẽ là những nghề mang lại thu nhập chính đối với cộng đồng của những hộ sống bằng nghề khai thác thủy sản trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Tuy nhiên, để nguồn lợi thủy sản được quản lý và sử dụng có hiệu quả thì cần đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại nò sáo, quản lý tốt nghề lừ và sự phát triển các công nghệ đánh bắt hủy diệt.

Hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai là tổng thể đầm phá ven biển miền Trung Việt Nam thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế trong phạm vi từ 16°14′ đến 16°42′ vĩ bắc và 107°22′ đến 107°57′ kinh đông. Khu đầm này trải dài 68 km thuộc địa phận năm huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, và Phú Lộc.

Về mặt địa lý khu đầm này là bốn đầm nối nhau từ bắc xuống nam: Phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Hà Trung-Thủy Tú, đầm Cầu Hai.

Một dải đất dài gồm những đụn cát cao ngăn đầm với biển. Có nơi cồn cát cao đến 20 m.

Phá Tam Giang chạy dài khoảng 27 km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương với diện tích 5.200 ha. Phá thông với biển bằng mỗi cửa Thuận An.

Đầm Sam nhỏ hơn với diện tích 1.620 ha, không thông ra biển.

Đầm Hà Trung-Thủy Tú dài và hẹp với diện tích 3.600 ha cũng là đầm kín không thông ra biển.

Đầm Cầu Hai lớn nhất với diện tích 11.200 ha. Cửa Tư Hiền thông đầm Cầu Hai với biển.

Hệ đầm hứng nước gần như tất cả các con sông lớn trong tỉnh Thừa Thiên nên nước đầm tương đối ngọt rồi chuyển sang nước lợ vào mùa khô.

Hồ Thị Thanh Nga

Theo TSVN





CÁC TIN KHÁC
  Khánh Hòa: tặng quà tết cho 116 tàu cá bám biển, khai thác thủy sản xuyên Tết Tân sửu năm 2021
  Kinh tế thủy sản hướng đại dương
  Ninh Thuận: Ngư dân trúng đậm tôm hùm giống
  Quãng Nam: Trúng đậm mùa cá hố
  Bộ NN&PTNT trả lời kiến nghị về quy định bằng máy trưởng tàu cá
  Đại hội Đảng bộ Tổng cục Thủy sản lần thứ nhất: Phó Tổng cục Thủy sản - Phạm Anh Tuấn được bầu làm bí thư.
  43 DN thuỷ sản đạt danh hiệu “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” năm 2009
  Nhận thức rõ, hành động ngay!
  SPCT: Tạo đà cho thủy sản vươn tới thị trường thế giới
  Hội Nghề cá Việt Nam chúc mừng VASEP
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang